Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo an ninh mạng của McAfee năm 2008, thiệt hại kinh tế do mất an toàn thông tin trên toàn cầu đã vượt mức 1.000 tỷ USD, phản ánh mức độ nguy hiểm ngày càng leo thang của tội phạm mạng đối với nền kinh tế số. Tại Việt Nam trong cùng năm, thống kê từ Trung tâm An ninh mạng BKIS ghi nhận 33.137 dòng virus máy tính mới xuất hiện, lây nhiễm trên 60 triệu lượt thiết bị và gây thiệt hại ước tính lên tới 30.000 tỷ đồng, tăng gấp 10 lần so với năm 2007. Thực trạng này đặt ra vấn đề nghiên cứu cấp bách: làm thế nào để xây dựng một hành lang pháp lý và cơ chế quản lý khoa học công nghệ đủ mạnh nhằm thúc đẩy nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng các sản phẩm an toàn và bảo mật (AT&BM) nội địa, bảo vệ vững chắc hệ thống thông tin điện tử quốc gia trong tiến trình hội nhập quốc tế.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là phân tích đa chiều tác động của hệ thống chính sách khoa học và công nghệ (KH&CN) hiện hành đối với sự phát triển các sản phẩm AT&BM; đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp chính sách đồng bộ đến năm 2020. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các hệ thống thông tin phục vụ khu vực kinh tế - xã hội và quản lý nhà nước không thuộc phạm vi bí mật quốc gia tại Việt Nam, dựa trên dữ liệu thực chứng giai đoạn 2000-2008 và tầm nhìn phát triển đến năm 2020. Ý nghĩa nghiên cứu mang tính thực tiễn cao, cung cấp luận cứ khoa học giúp cơ quan quản lý tối ưu hóa tỷ lệ phân bổ ngân sách cho bảo mật (đạt mức chuẩn 10% tổng mức đầu tư công nghệ thông tin) và giảm thiểu trên 70% nguy cơ rò rỉ dữ liệu trước các cuộc tấn công không gian mạng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết chính sách KH&CN của Giáo sư Vũ Cao Đàm và khung hướng dẫn phát triển tiềm lực khoa học của UNESCO, xác định chính sách là tập hợp các biện pháp thể chế hóa do chủ thể quản lý ban hành nhằm tạo động lực và định hướng hoạt động của các tổ chức kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng mô hình tam giác bảo mật CIA kinh điển (Confidentiality - Tính tin cậy, Integrity - Tính toàn vẹn, Availability - Tính sẵn sàng) được tổng hợp bởi Tiến sĩ khoa học Ghegzda D.P Ivasko để lượng hóa mức độ an toàn của hệ thống thông tin.

Khung lý thuyết của luận văn xoay quanh 4 khái niệm cốt lõi:

  1. Sản phẩm an toàn và bảo mật: Các giải pháp phần cứng và phần mềm (như Tường lửa - Firewall, Hệ thống phát hiện xâm nhập - IDS, Hệ thống ngăn chặn xâm nhập - IPS, Thiết bị mật mã) tích hợp kỹ thuật chuyên dụng để bảo vệ hệ thống trước hiểm họa mạng.
  2. Hạ tầng khóa công khai (PKI): Tập hợp các giải pháp kỹ thuật và pháp lý phục vụ việc quản lý, phân phối chứng chỉ số và chữ ký số.
  3. Tiêu chuẩn quản lý an toàn thông tin ISO/IEC 27001:2005: Bộ chuẩn quốc tế cung cấp mô hình thiết lập, vận hành và cải tiến hệ thống quản lý an toàn thông tin.
  4. Tiêu chí chung Common Criteria (ISO/IEC 15408): Hệ thống tiêu chuẩn quốc tế gồm 7 mức bảo đảm đánh giá (EAL 1 đến EAL 7) nhằm kiểm định độ tin cậy của sản phẩm AT&BM.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các văn bản quy phạm pháp luật (Luật Giao dịch điện tử số 51/2005/QH11, Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11, Nghị định số 26/2007/NĐ-CP, Nghị định số 73/2007/NĐ-CP) kết hợp báo cáo an ninh của VNCERT, Websense và Frost & Sullivan. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực tế tại 70 cơ quan, đơn vị, bao gồm 05 Trung tâm Tin học cấp Bộ, 15 cơ quan quản lý nhà nước trực thuộc các Sở/Ban/Ngành và 50 doanh nghiệp quy mô lớn có ứng dụng thương mại điện tử.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng (purposive stratified sampling) được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho các hệ thống thông tin trọng yếu quốc gia. Tác giả sử dụng phương pháp phân tích chính sách định tính kết hợp kỹ thuật phân tích thống kê định lượng và quét mạng an ninh thực nghiệm tại hiện trường. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm đối chiếu khách quan giữa quy định pháp lý trên văn bản với năng lực thực thi phòng vệ trên thực tế, hạn chế sai số do tính chủ quan của người trả lời bảng hỏi. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu và khảo sát thực địa được thực hiện xuyên suốt trong năm 2008, so sánh đối chiếu với các mốc dữ liệu năm 2000 và 2003.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, chính sách KH&CN đã tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và tỷ lệ trang bị công cụ bảo vệ nền tảng. Dữ liệu khảo sát thực chứng cho thấy tỷ lệ các tổ chức sử dụng tường lửa (Firewall) đã tăng từ 10% vào năm 2000 lên 70% vào năm 2008. Tỷ lệ máy trạm cá nhân được cài đặt phần mềm diệt virus tăng trưởng vượt bậc từ 40% năm 2000 lên 70% năm 2003 và đạt 100% vào năm 2008. Tương tự, tỷ lệ triển khai giải pháp diệt virus cho hệ thống Mail Server tăng từ 4% năm 2003 lên 94,2% năm 2008.

Thứ hai, việc ứng dụng các giải pháp phòng thủ chuyên sâu và công nghệ xác thực mạnh còn ở mức rất khiêm tốn. Tỷ lệ cơ quan, doanh nghiệp trang bị Hệ thống phát hiện truy nhập trái phép (IDS) năm 2003 chỉ đạt 3%, đến năm 2008 mới tăng lên 35,7%. Đáng chú ý, việc ứng dụng thiết bị Token mật mã để xác thực người dùng chỉ chiếm 7,1% vào năm 2008, dù đã tăng so với mức 1% của năm 2000. Hệ quả là có tới 40% website chứng khoán và 8 trên tổng số 26 cổng thông tin điện tử ngân hàng tại Việt Nam năm 2008 tồn tại lỗ hổng bảo mật nghiêm trọng.

Thứ ba, khoảng cách lớn giữa ban hành quy định và mức độ chuẩn hóa vận hành theo tiêu chuẩn quốc tế. Mặc dù các văn bản pháp luật đã định hình khung thể chế, chỉ có 19,34% đơn vị được khảo sát có kế hoạch áp dụng tiêu chuẩn ISO 27001, trong khi 30,6% hoàn toàn không nhận thức được sự cần thiết của việc chuẩn hóa. Trong đợt diễn tập tấn công thử nghiệm do VNCERT và VNISA phối hợp thực hiện trên hệ thống cổng thông tin cơ quan nhà nước năm 2008, chỉ có 23% đơn vị phát hiện được hệ thống đang bị xâm nhập.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên bắt nguồn từ sự đầu tư manh mún, thiếu đồng bộ trong các cơ quan, tổ chức. Nhiều đơn vị chỉ dành khoảng 3% ngân sách CNTT cho công tác AT&BM, cách rất xa so với chuẩn 10% của các nước phát triển. Thêm vào đó, Việt Nam thiếu một hệ thống kiểm định, đánh giá chất lượng sản phẩm AT&BM theo chuẩn quốc tế, dẫn đến việc nhập khẩu tràn lan các thiết bị nước ngoài vốn tiềm ẩn nguy cơ bị cài đặt sẵn cửa sau (backdoor) hoặc thuật toán mã hóa suy yếu.

Các phát hiện nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột so sánh tỷ lệ trang bị công nghệ AT&BM qua 3 mốc thời gian 2000 - 2003 - 2008 và bảng ma trận đánh giá năng lực kiểm soát rủi ro theo các cấp độ EAL của chuẩn Common Criteria. Khi đặt cạnh dự báo của Frost & Sullivan về tốc độ tăng trưởng thị trường AT&BM tại Việt Nam đạt 32%/năm (trong đó dòng sản phẩm IDP tăng trưởng 52,3%/năm), kết quả nghiên cứu chỉ ra sự bất cập sâu sắc: thị trường tăng trưởng nhanh nhưng doanh nghiệp trong nước mới chỉ sản xuất được phần mềm diệt virus đơn giản (như BKAV, CMC), chưa làm chủ được thiết bị phần cứng bảo mật chuyên dụng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích tác động chính sách, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp AT&BM Việt Nam giai đoạn đến năm 2020:

  1. Ban hành quy định bắt buộc về AT&BM trong hệ thống cơ quan nhà nước: Chính phủ cần chỉ đạo Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp cùng Ban Cơ yếu Chính phủ ban hành thông tư liên tịch quy định bắt buộc trích tối thiểu 10% tổng kinh phí đầu tư các dự án CNTT cho hạng mục an toàn, bảo mật. Thời gian triển khai áp dụng đồng bộ trên toàn quốc từ giai đoạn 2010-2015.

  2. Xây dựng hệ thống Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) và Quy chuẩn kỹ thuật (QCVN) về AT&BM: Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì việc chuyển dịch và áp dụng tiêu chuẩn Tiêu chí chung Common Criteria (ISO/IEC 15408) vào hệ thống tiêu chuẩn Việt Nam. Mục tiêu đến năm 2015 ban hành đầy đủ bộ quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc đối với tất cả các thiết bị phần cứng, phần mềm an ninh mạng thương mại nhập khẩu và sản xuất trong nước.

  3. Thiết lập tổ chức kiểm định quốc gia và gia nhập Thỏa ước CCRA: Nhà nước ưu tiên cấp vốn đầu tư nâng cấp Phòng thí nghiệm trọng điểm an toàn thông tin quốc gia đạt chuẩn quốc tế. Bộ TT&TT xây dựng đề án gia nhập Tổ chức thừa nhận lẫn nhau về Tiêu chí chung (CCRA) với tư cách quốc gia cấp chứng chỉ (CAP) trước năm 2020, tạo điều kiện cho sản phẩm AT&BM Việt Nam xuất khẩu ra thị trường toàn cầu.

  4. Phát triển Hạ tầng cơ sở khóa công khai quốc gia (National PKI) và đẩy mạnh chuyển giao công nghệ: Ban Cơ yếu Chính phủ và Bộ TT&TT cấp phép, giám sát chặt chẽ hoạt động của các Tổ chức chứng thực chữ ký số (CA), đồng thời thiết lập chính sách ưu đãi thuế, hỗ trợ vốn nghiên cứu cho các doanh nghiệp công nghệ trong nước tiếp nhận chuyển giao công nghệ mật mã, hướng tới mục tiêu tự chủ sản xuất trên 50% chủng loại thiết bị AT&BM trọng yếu vào năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách (Bộ KH&CN, Bộ TT&TT, Ban Cơ yếu Chính phủ): Khai thác luận văn làm căn cứ lý luận và cơ sở dữ liệu thực tiễn để xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, hoàn thiện khung tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về bảo mật thông tin.
  2. Lãnh đạo công nghệ thông tin (CIO, CISO) tại các tổ chức công và doanh nghiệp: Áp dụng khung tiêu chuẩn ISO 27001 và mô hình đánh giá rủi ro trong luận văn để quy hoạch kiến trúc bảo mật tổng thể, tối ưu hóa ngân sách đầu tư thiết bị AT&BM.
  3. Doanh nghiệp nghiên cứu, sản xuất và phân phối sản phẩm an ninh mạng: Nắm bắt xu hướng tiêu chuẩn hóa Common Criteria (ISO 15408) và định hướng thị trường để thiết kế lộ trình phát triển sản phẩm phần cứng, phần mềm an toàn thông tin đáp ứng tiêu chuẩn kiểm định quốc tế.
  4. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Quản lý KH&CN, An toàn thông tin: Sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận phân tích tác động chính sách và phương pháp điều tra thực chứng hệ thống CNTT tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao chính sách KH&CN lại giữ vai trò quyết định đối với thị trường sản phẩm an toàn và bảo mật? Sản phẩm an toàn bảo mật là loại hình công nghệ cao mang tính đặc thù và giá thành lớn. Chính sách KH&CN đóng vai trò định hướng tiêu chuẩn kỹ thuật, tạo lập khung pháp lý kiểm định chất lượng và kích cầu thị trường thông qua các quy định bắt buộc về bảo mật trong cơ quan nhà nước, bảo đảm an ninh hệ thống thông tin quốc gia.

Nguy cơ tiềm ẩn lớn nhất khi sử dụng thiết bị an toàn bảo mật nhập khẩu từ nước ngoài là gì? Các cường quốc công nghệ luôn kiểm soát chặt chẽ việc xuất khẩu mật mã. Thiết bị thương mại xuất khẩu thường đi sau công nghệ hiện hành từ 5 đến 7 năm và tiềm ẩn rủi ro bị cài cắm cửa sau (backdoor) hoặc thuật toán mã hóa yếu, khiến dữ liệu nội bộ có thể bị các cơ quan tình báo quốc tế giải mã và khai thác.

Tiêu chí chung Common Criteria (ISO/IEC 15408) đóng vai trò gì trong quản lý sản phẩm bảo mật? Common Criteria cung cấp thước đo quốc tế thống nhất với 7 cấp độ bảo đảm đánh giá (EAL 1 đến EAL 7). Tiêu chuẩn này giúp người mua xác thực độ tin cậy của sản phẩm, giúp nhà sản xuất chuẩn hóa quy trình phát triển và giúp cơ quan quản lý loại bỏ các sản phẩm kém chất lượng trên thị trường.

Thực trạng tỷ lệ phân bổ ngân sách cho bảo mật thông tin tại các cơ quan, doanh nghiệp Việt Nam ra sao? Khảo sát thực tế giai đoạn 2000-2008 cho thấy phần lớn các đơn vị chỉ dành khoảng 3% tổng ngân sách CNTT cho công tác an toàn bảo mật. Con số này quá thấp so với mức khuyến nghị chuẩn 10% của các tổ chức an ninh mạng quốc tế, dẫn đến tình trạng hệ thống phòng thủ bị chắp vá và dễ bị xâm nhập.

Tại sao việc xây dựng Hạ tầng khóa công khai quốc gia (PKI) lại là nhiệm vụ cấp bách đến năm 2020? PKI cung cấp nền tảng xác thực mạnh, tính toàn vẹn và khả năng chống chối bỏ thông qua công nghệ chữ ký số và chứng chỉ số. Đây là điều kiện tiên quyết để triển khai an toàn các dịch vụ công trực tuyến của Chính phủ điện tử và các giao dịch tài chính trong thương mại điện tử, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý chính sách KH&CN và khung đánh giá độ an toàn thông tin theo mô hình CIA, ISO 27001 và ISO 15408.
  • Cung cấp bức tranh thực chứng chuẩn xác về thực trạng triển khai AT&BM tại 70 cơ quan, doanh nghiệp Việt Nam, chỉ ra sự tăng trưởng mạnh về sử dụng Firewall (70%) nhưng còn yếu về xác thực Token (7,1%) và chuẩn ISO 27001 (19,34%).
  • Phân tích rõ tính hai mặt của việc phụ thuộc vào thiết bị bảo mật nhập ngoại và khẳng định tính cấp thiết của việc tự chủ công nghệ phòng thủ không gian mạng.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chính sách trọng tâm đến năm 2020, nổi bật là việc áp dụng chuẩn Common Criteria và lộ trình gia nhập tổ chức CCRA.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện thể chế quản lý KH&CN trong lĩnh vực an toàn thông tin phục vụ tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Để hiện thực hóa mục tiêu bảo vệ chủ quyền số quốc gia, các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ cần khẩn trương phối hợp triển khai đồng bộ lộ trình chuẩn hóa tiêu chuẩn kỹ thuật và đầu tư nguồn lực cho phòng thí nghiệm kiểm định trọng điểm. Hãy liên hệ và tham khảo chi tiết toàn văn công trình nghiên cứu để áp dụng các giải pháp quản lý chính sách KH&CN tối ưu vào thực tiễn tổ chức.