Tổng quan nghiên cứu
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đóng vai trò là đầu tàu kinh tế năng động bậc nhất của Việt Nam, đóng góp trung bình 45,4% vào tổng sản phẩm quốc nội giai đoạn 2011–2019 và đạt tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân 6,81%/năm. Tuy nhiên, các biến động kinh tế vĩ mô cùng sự bùng phát của đại dịch đã khiến tốc độ tăng trưởng GRDP của vùng suy giảm 3,45% vào năm 2021, đặt ra thách thức cấp bách về việc tái cấu trúc nguồn lực tài khóa. Vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để phân bổ hiệu quả tổng chi ngân sách địa phương đạt mức 291,85 nghìn tỷ đồng nhằm kích thích tăng trưởng bền vững mà không gây áp lực nợ công.
Nghiên cứu tập trung giải quyết mục tiêu định lượng mức độ tác động của từng thành phần chi tiêu công cấp tỉnh đối với tăng trưởng kinh tế địa phương, đo lường qua logarit tự nhiên của GRDP bình quân đầu người theo giá hiện hành. Phạm vi nghiên cứu bao quát 8 tỉnh và thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh, Long An và Tiền Giang trong khung thời gian 10 năm từ năm 2011 đến năm 2020.
Ý nghĩa của đề tài được thể hiện rõ qua việc cung cấp cơ sở thực nghiệm vững chắc cho chính quyền địa phương trong việc tối ưu hóa tỷ trọng 35,5% chi đầu tư phát triển và 28,8% chi thường xuyên trong cơ cấu ngân sách. Kết quả nghiên cứu là thước đo định lượng giúp các nhà hoạch định chính sách điều chỉnh đòn bẩy tài khóa, thúc đẩy thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vốn đạt hơn 41 tỷ USD tại khu vực, đồng thời giảm thiểu lãng phí nguồn lực công.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết tăng trưởng nội sinh của Barro (1990) và Cazzavillan (1996), khẳng định sự cung ứng hàng hóa công và hạ tầng của chính phủ tạo ra hiệu ứng lan tỏa tích cực đến năng suất cận biên của khu vực tư nhân. Bên cạnh đó, lý thuyết đường cong Rahn (Rahn Curve, 1986) được vận dụng để giải thích ngưỡng quy mô chi tiêu công tối ưu, nơi sự can thiệp của chính phủ đạt điểm cân bằng trước khi gây ra tình trạng lấn át đầu tư tư nhân. Thuyết tổng cầu của trường phái Keynes cũng cung cấp luận điểm về vai trò kích cầu ngắn hạn của các dòng vốn ngân sách nhà nước trong giai đoạn suy thoái.
Khung phân tích phân rã chi tiêu công thành 7 cấu phần chuyên biệt: chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi giáo dục đào tạo, chi khoa học và công nghệ, chi sự nghiệp kinh tế, chi bảo vệ môi trường, và chi bảo đảm xã hội. Đồng thời, mô hình kiểm soát các biến số vĩ mô then chốt bao gồm vốn đầu tư tư nhân bình quân đầu người, vốn đầu tư của chính phủ trung ương, mức độ tự cấp vốn của địa phương, chuyển giao tài chính từ ngân sách trung ương và chỉ số lạm phát cấp tỉnh.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu gồm 8 tỉnh, thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong chuỗi thời gian 10 năm liên tục từ năm 2011 đến năm 2020, tạo thành bộ dữ liệu bảng cân đối với tổng cộng 80 quan sát. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng nhằm bao quát toàn diện các thực thể kinh tế thuộc vùng động lực phía Nam. Dữ liệu thứ cấp được thu thập và đồng bộ hóa từ Niên giám thống kê của 8 tỉnh thành, Tổng cục Thống kê, Báo cáo quyết toán ngân sách của Bộ Tài chính và ấn phẩm Chỉ số chính cho Châu Á - Thái Bình Dương.
Quy trình ước lượng kinh tế lượng trải qua các bước kiểm định chặt chẽ từ mô hình Hồi quy bình phương nhỏ nhất gộp (Pooled OLS), Mô hình tác động cố định (FEM) thông qua kiểm định F-test, đến Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) qua kiểm định Hausman. Nhằm khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan thường gặp ở dữ liệu bảng, phương pháp ước lượng sai phân tổng quát (Difference GMM - DGMM) của Arellano và Bond (1991) được lựa chọn làm phương pháp ước lượng cốt lõi. Lý do lựa chọn DGMM là kỹ thuật này xử lý triệt để hiện tượng nội sinh phát sinh từ độ trễ của biến phụ thuộc tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ hai chiều giữa chi ngân sách với GRDP địa phương.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích thống kê mô tả cho thấy GRDP bình quân đầu người của vùng đạt mức trung bình 98.206,48 nghìn đồng/người, có sự phân hóa mạnh với mức thấp nhất là 28.346 nghìn đồng/người và cao nhất đạt 393.890 nghìn đồng/người. Vốn tư nhân bình quân ghi nhận giá trị trung bình 27.702 triệu đồng/nghìn người, biến thiên từ 13,64 đến 81.045,55 triệu đồng/nghìn người, phản ánh sự chênh lệch lớn về mức độ tập trung doanh nghiệp giữa các trung tâm công nghiệp như Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương với các địa phương vùng ven như Bình Phước hay Tây Ninh.
Kết quả hồi quy thực nghiệm mang lại bốn phát hiện trọng tâm:
Thứ nhất, chi thường xuyên (giá trị trung bình 3.377 triệu đồng/nghìn người) có tác động tích cực vượt trội và đạt ý nghĩa thống kê ở mức 1% đối với tăng trưởng kinh tế, khẳng định vai trò duy trì sự vận hành ổn định của bộ máy hành chính và cung cấp dịch vụ công cơ bản.
Thứ hai, chi sự nghiệp kinh tế (trung bình 455 triệu đồng/nghìn người) thể hiện hệ số tác động dương mạnh mẽ đạt mức 0,71 trong mô hình DGMM, cùng với chi khoa học công nghệ (trung bình 32 triệu đồng/nghìn người) và chi bảo vệ môi trường (trung bình 163 triệu đồng/nghìn người) đóng góp cùng chiều vào sự gia tăng GRDP.
Thứ ba, chi đầu tư phát triển (trung bình 2.354 triệu đồng/nghìn người, chiếm 35,5% tổng chi năm 2020) mang hệ số ước lượng âm ở mức -0,33 trong mô hình hồi quy động, cho thấy trong ngắn hạn chi đầu tư công chưa phát huy hiệu quả thúc đẩy kinh tế như kỳ vọng lý thuyết.
Thứ tư, chi giáo dục (trung bình 1.189,4 triệu đồng/nghìn người) và chi bảo đảm xã hội (trung bình 207 triệu đồng/nghìn người) có xu hướng tác động ngược chiều trong ngắn hạn, phản ánh tính chất trễ về mặt thời gian của việc tích lũy vốn nhân lực và an sinh xã hội.
Thảo luận kết quả
Tác động ngược chiều của chi đầu tư phát triển trong ngắn hạn phản ánh tình trạng giải ngân vốn đầu tư công còn chậm trễ, thủ tục chuẩn bị dự án kéo dài và hiện tượng đầu tư dàn trải tại một số địa phương. Nhiều công trình giao thông trọng điểm liên vùng cần từ 3 đến 5 năm xây dựng mới hoàn thành, tạo ra độ trễ lớn trước khi năng lực sản xuất mới đi vào vận hành. Kết quả này tương đồng với các phát hiện của Sử Đình Thành và cộng sự (2019) tại cấp tỉnh của Việt Nam và nghiên cứu của Kutashi và Marton (2020) tại khối các nước Liên minh châu Âu.
Ngược lại, sự đóng góp tích cực của chi thường xuyên và chi sự nghiệp kinh tế cho thấy việc duy trì hệ thống quản trị công minh bạch, hỗ trợ xúc tiến thương mại và vận hành cơ sở hạ tầng hiện hữu đem lại hiệu quả tức thì cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân. Chi khoa học công nghệ dù chiếm tỷ trọng khiêm tốn với giá trị trung bình 32 triệu đồng/nghìn người nhưng đã bước đầu tạo ra giá trị gia tăng thông qua việc ứng dụng công nghệ tại các khu công nghệ cao và trung tâm công nghiệp lớn.
Để minh họa trực quan các kết quả này trong báo cáo học thuật, dữ liệu có thể được trình bày thông qua biểu đồ phân tán kết hợp đường xu hướng hồi quy giữa quy mô chi sự nghiệp kinh tế và tốc độ tăng trưởng GRDP, kèm theo bảng ma trận tương quan giữa 7 cấu phần chi tiêu công để làm rõ mức độ tương hỗ giữa các biến số tài khóa.
Đề xuất và khuyến nghị
Căn cứ vào kết quả định lượng, bốn nhóm giải pháp hành động được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ ngân sách:
Thứ nhất, tái cơ cấu danh mục vốn đầu tư công theo hướng tập trung và cắt giảm dàn trải. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố phối hợp cùng Sở Kế hoạch và Đầu tư rà soát, kiên quyết cắt giảm các dự án có hiệu quả kinh tế thấp, tập trung vốn cho các công trình hạ tầng giao thông kết nối liên vùng. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công đạt tối thiểu 95% kế hoạch hàng năm trong lộ trình từ năm 2023 đến năm 2026.
Thứ hai, tối ưu hóa định mức chi thường xuyên gắn với tinh gọn bộ máy và chuyển đổi số. Sở Tài chính và Sở Nội vụ các địa phương cần đẩy mạnh cơ chế khoán chi hành chính, ứng dụng dịch vụ công trực tuyến để giảm chi phí vận hành thường xuyên. Mục tiêu duy trì tốc độ tăng chi thường xuyên ổn định ở mức 5% đến 6%/năm trong giai đoạn 2023–2025, tiết kiệm tối thiểu 10% chi phí quản lý hành chính để chuyển dịch sang chi sự nghiệp kinh tế.
Thứ ba, nâng tỷ trọng phân bổ ngân sách cho khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường. Hội đồng nhân dân các tỉnh cần ban hành nghị quyết nâng tỷ lệ chi cho khoa học công nghệ từ mức trung bình 32 triệu đồng/nghìn người hiện nay lên mức tối thiểu 2% tổng chi ngân sách địa phương trước năm 2027. Nguồn lực này cần ưu tiên tài trợ cho các đề tài nghiên cứu ứng dụng chuyển giao công nghệ tự động hóa trong các khu công nghiệp tại Đồng Nai, Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh.
Thứ tư, thiết lập hệ thống giám sát chi tiêu công dựa trên kết quả đầu ra. Bộ Tài chính phối hợp cùng chính quyền địa phương triển khai khung quản lý ngân sách theo hiệu quả thực thi (Performance-Based Budgeting), áp dụng bộ chỉ số KPI đánh giá hiệu quả giải ngân cho 100% dự án công giai đoạn 2024–2030, gắn trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước với tiến độ và chất lượng công trình.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho bốn nhóm đối tượng chính với các mục đích ứng dụng cụ thể:
-
Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách tài khóa: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư của 8 tỉnh thành trong vùng có thể sử dụng các hệ số hồi quy định lượng để xây dựng kế hoạch tài chính - ngân sách trung hạn 5 năm, cân đối hợp lý tỷ lệ giữa chi đầu tư và chi thường xuyên.
-
Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên sau đại học: Các chuyên gia kinh tế học, tài chính công và kinh tế phát triển có thể tham khảo quy trình ước lượng mô hình bảng động DGMM, cách thức xử lý biến nội sinh và hệ thống chỉ tiêu phân loại chi tiêu công cấp tỉnh để mở rộng nghiên cứu cho các vùng kinh tế khác.
-
Cộng đồng doanh nghiệp và các hiệp hội ngành nghề: Các nhà đầu tư trong nước và doanh nghiệp FDI có thể nắm bắt xu hướng phân bổ ngân sách hạ tầng của từng địa phương, từ đó đưa ra chiến lược định vị nhà máy, mở rộng chuỗi cung ứng tại các địa bàn có mức chi sự nghiệp kinh tế và hạ tầng cao như Bình Dương, Đồng Nai hay Long An.
-
Các tổ chức phát triển quốc tế và tư vấn chính sách: Các định chế tài chính như Ngân hàng Thế giới (WB) hay Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) có thể sử dụng dữ liệu thực nghiệm 10 năm của luận văn để đánh giá hiệu quả quản trị công cấp địa phương và thiết kế các chương trình hỗ trợ kỹ thuật về cải cách quản lý tài chính công.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao chi đầu tư công lại có mối tương quan ngược chiều với tăng trưởng trong ngắn hạn?
Trong ngắn hạn, các dự án đầu tư công quy mô lớn thường chịu độ trễ thi công kéo dài từ 3 đến 5 năm, gặp trở ngại về giải phóng mặt bằng và giải ngân vốn chậm. Khi ngân sách bị phân tán vào các công trình chưa hoàn thiện, nguồn lực chưa thể chuyển hóa ngay thành năng lực sản xuất mới, đồng thời có thể gây hiệu ứng lấn át dòng vốn tư nhân.
Chi thường xuyên đóng góp như thế nào vào sự phát triển kinh tế vùng?
Chi thường xuyên với mức bình quân 3.377 triệu đồng/nghìn người giúp bảo đảm hệ thống hành chính công vận hành thông suốt, giảm chi phí tuân thủ thủ tục cho doanh nghiệp. Các khoản chi bảo trì đường sá, vận hành trạm y tế và duy trì trật tự xã hội tạo ra môi trường kinh doanh ổn định tức thì, kích thích các hoạt động giao thương thường nhật.
Phương pháp hồi quy DGMM giải quyết vấn đề kỹ thuật nào trong bài toán này?
Phương pháp DGMM của Arellano và Bond giúp kiểm soát triệt để hiện tượng nội sinh nảy sinh khi tăng trưởng GRDP tác động ngược trở lại quy mô thu chi ngân sách. Bằng cách sử dụng các biến trễ làm biến công cụ, DGMM loại bỏ sai số cá phương không quan sát được và mang lại các ước lượng vững, không chệch cho mô hình bảng động.
Sự phân hóa chi ngân sách giữa các tỉnh trong vùng thể hiện qua số liệu ra sao?
Số liệu thực nghiệm chỉ ra khoảng cách rất lớn giữa các địa phương. Điển hình là Thành phố Hồ Chí Minh chiếm tới 39,4% tổng chi đầu tư của cả vùng năm 2020, trong khi Bình Phước chỉ chiếm 5,2%. Mức độ tự cấp vốn bình quân của các tỉnh cũng biến động mạnh từ 34,27 đến 303,29 triệu đồng/nghìn người, phản ánh năng lực thu ngân sách không đồng đều.
Khoản chi nào cần được ưu tiên gia tăng tỷ trọng để tạo động lực tăng trưởng mới?
Chi cho sự nghiệp kinh tế và khoa học công nghệ là hai động lực quan trọng nhất cần được ưu tiên. Hiện nay chi khoa học công nghệ bình quân chỉ đạt 32 triệu đồng/nghìn người, mức rất thấp so với nhu cầu chuyển đổi số. Gia tăng cấu phần này sẽ giúp nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và tạo giá trị gia tăng cao cho các ngành công nghiệp chủ lực của vùng.
Kết luận
- Luận văn đã phân tích toàn diện tác động của 7 cấu phần chi tiêu công đến tăng trưởng GRDP của 8 tỉnh, thành phố vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong giai đoạn 10 năm từ năm 2011 đến năm 2020.
- Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng động DGMM đã xử lý thành công hiện tượng nội sinh, mang lại các bằng chứng thực nghiệm tin cậy về mặt học thuật và kinh tế lượng.
- Kết quả khẳng định chi thường xuyên, chi sự nghiệp kinh tế và chi môi trường có tác động cùng chiều rõ rệt, trong khi chi đầu tư phát triển và chi giáo dục chịu độ trễ lớn nên thể hiện tác động ngược chiều trong ngắn hạn.
- Đóng góp chính của đề tài là chỉ rõ thực trạng phân bổ ngân sách địa phương, cung cấp khung định lượng giúp chính quyền các tỉnh cân đối cơ cấu chi tiêu thay vì chỉ tập trung vào mở rộng quy mô chi ngân sách thuần túy.
- Lộ trình triển khai khuyến nghị cần được thực hiện qua các giai đoạn: tái cơ cấu dự án công giai đoạn 2023–2026, nâng tỷ trọng chi khoa học công nghệ trước năm 2027 và hoàn thiện cơ chế ngân sách theo kết quả đầu ra đến năm 2030.
Chính quyền các địa phương vùng kinh tế trọng điểm phía Nam cần sớm chuyển dịch mô hình quản trị tài chính công từ diện rộng sang chiều sâu, ưu tiên nguồn lực cho đổi mới sáng tạo và hoàn thiện hạ tầng liên kết vùng để giữ vững vai trò đầu tàu kinh tế cả nước.