Chương 1 giới thiệu tổng quan về lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi, đối tượng và ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu, và kết cấu của luận văn. Chương 2 trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết nền tảng của nghiên cứu và các cơ sở nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh mối quan hệ giữa chế độ tỷ giá hối đoái và tăng trưởng kinh tế để từ đó củng cố lại kiến thức và hình thành nên mô hình nghiên cứu trong chương 3. 4 Chương 3 trình bày quy trình thực hiện nghiên cứu, cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu, mô tả biến nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu sử dụng để kiểm chứng độ phù hợp chung của mô hình. Chương 4 phân tích dữ liệu mẫu, tiến hành thực hiện các kiểm định và ước lượng hàm hồi quy nhằm đánh giá mức độ ý nghĩa ảnh hưởng của chế độ tỷ giá hối đoái tác động đến tăng trưởng kinh tế sau khi chạy mô hình trên ứng dụng Stata 13.
Chương 5 tìm ra kết quả nghiên cứu và đồng thời đề xuất gợi ý cơ chế, chính sách từ kết quả nghiên cứu, nêu ra những hạn chế của đề tài và gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương này, nghiên cứu đề cập các khái niệm, các lý thuyết nền và các nghiên cứu trước tìm hiểu về chế độ tỷ giá hối đoái, tăng trưởng kinh tế.1 Tỷ giá hối đoái và chế độ tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái Trong điều kiện hiện nay, các nước ngày càng có nhiều mối quan hệ với nhau trên các mặt kinh tế, chính trị, du lịch. Vì vậy những quan hệ thanh toán quốc tế nảy sinh.
Mặt khác đồng tiền của một nước có giá trị lưu thông trên nước đó. Do vậy để thực hiện các thanh toán trên thì cần đổi tiền nước này ra tiền nước khác. Từ đó tỷ giá hối đoái là cần thiết và quan trọng. Có rất nhiều nhà kinh tế đưa ra những khái niệm khác nhau về tỷ giá hối đoái.
Chẳng hạn như, Samuelson và ctg (1995), nhà kinh tế học nổi tiếng của Mỹ cho rằng, tỷ giá hối đoái là tỷ giá để đổi tiền của một nước này lấy tiền của một nước khác. Theo quan điểm của nhà kinh tế học David Begg và ctg (2009), tỷ lệ trao đổi giữa hai đồng tiền được gọi là tỷ giá. Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều (2012) định nghĩa tỷ giá hối đoái là giá cả của đồng tiền này tính bằng một số đơn vị đồng tiền kia.1 Chế độ tỷ giá hối đoái Theo Nguyễn Văn Tiến (2013) khi tổng hợp về lý thuyết chế độ tỷ giá hối đoái, về mặt thuật ngữ, chế độ tỷ giá (exchange rate regime) còn có các tên gọi khác như: cơ chế tỷ giá (exchange rate mechanism) hay cấu trúc tỷ giá (exchange rate arrangement). Tỷ giá vừa là một phạm trù kinh tế vừa là một công cụ của chính sách kinh tế của Chính phủ.
Vì là công cụ của chính sách kinh tế nên tỷ giá chứa đựng những yếu tố chủ quan. Chính vì vậy, các quốc gia thường hình thành quy tắc xác định và cơ chế điều 6 tiết tỷ giá của riêng mình. Tập hợp các quy tắc xác định và cơ chế điều tiết tỷ giá của một quốc gia tạo nên chế độ tỷ giá của các quốc gia này. Vì chứa đựng yếu tố chủ quan, nên chế độ tỷ giá của một quốc gia có thể thay đổi từ thời gian này sang thời gian khác và chế độ tỷ giá giữa các quốc gia cũng thường là khác nhau.
Trong thực tiễn, các quốc gia cũng thường có những sự hợp tác nhất định trong lĩnh vực điều tiết tỷ giá. Trong thực tiễn, các quốc gia cũng thường có những sự hợp tác nhất định trong lĩnh vực điều tiết tỷ giá. Tính chất đa dạng của các chế độ tỷ giá phụ thuộc vào vai trò của Chính phủ và vai trò của thị trường trong việc hình thành và điều tiết tỷ giá. Tùy vào mức độ can thiệp của Chính phủ mà tỷ giá có thể là hoàn toàn cố định, hoàn toàn thả nổi theo thị trường hay thả nổi có điều tiết.2 Phân loại chế độ tỷ giá hối đoái Theo tổng hợp về lý thuyết chế độ tỷ giá hối đoái của nghiên cứu tác giả Ilzetzki (2017)1, và IMF tại báo cáo thường niên năm (2014)2 các chế độ tỷ giá gồm: ۔ Chế độ tỷ giá không có đồng tiền pháp định riêng (No separate legal tender) ۔ Chế độ bản vị tiền tệ (Currency board) ۔ Chế độ tỷ giá neo thông thường (conventional peg) ۔ Chế độ tỷ giá ổn định (stabilized arrangement) ۔ Chế độ neo tỷ giá có điều chỉnh (crawling peg) ۔ Chế độ tỷ giá điều chỉnh có sự quản lý (crawling – like arrangement) ۔ Chế độ neo tỷ giá trong biên độ (pegged exchange rate within horizontal bands) 1 Ilzetzki (2017), trang 11, 17 2 Annual Report on Exchange Arrangements and Exchange Restrictions 2014, trang 68 7 ۔ Chế độ tỷ giá thả nổi (floating) ۔ Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn (free floating).
۔ Chế độ tỷ giá quản lý khác (other managed arrangement). Việc lựa chọn chế độ tỷ giá phù hợp phụ thuộc vào đặc thù mỗi nước và có thể thay đổi theo thời gian. Một số nguyên tắc lựa chọn chế độ tỷ giá mà các chuyên gia kinh tế của IMF đưa ra như sau: Bảng 2.1: Một số nguyên tắc lựa chọn chế độ tỷ giá theo IMF Đặc thù của nền kinh Gợi ý mức độ linh hoạt của tỷ giá tế Quy mô của nền kinh tế Quy mô càng lớn, tỷ giá linh hoạt càng phù hợp Mức độ mở cửa Càng mở cửa, tỷ giá linh hoạt càng phù hợp Đa dạng hóa cơ cấu sản Nền kinh tế càng đa dạng hóa, tỷ giá linh hoạt càng xuất/xuất khẩu phù hợp Cơ cấu thương mại theo địa Tỷ trọng ngoại thương với một nước càng lớn càng lý nên gắn đồng bản tệ với đồng tiền nước đó. Chênh lệch lạm phát so với các đối tác thương mại chủ yếu càng lớn, càng cần phải điều chỉnh tỷ giá Chênh lệch lạm phát trong thường xuyên.
Tuy nhiên, nếu lạm phát quá cao chế nước so với bên ngoài độ tỷ giá cố định sẽ tạo cơ sở và độ tin cậy lớn hơn cho ổn định kinh tế. Mức độ phát triển kinh tế, tài Mức độ phát triển kinh tế tài chính càng cao, tỷ giá chính linh hoạt càng phù hợp. Chu chuyển vốn Chu chuyển vốn càng cao càng khó duy trì chế độ tỷ 8 giá neo đậu có điều chỉnh. Biến động danh nghĩa bên Biến động danh nghĩa bên ngoài càng lớn, tỷ giá ngoài càng linh hoạt càng phù hợp.
Biến động danh nghĩa trong Biến động danh nghĩa trong nước càng lớn, tỷ giá nước linh hoạt càng phù hợp. Khả năng nền kinh tế bị tác động bởi biến động thực Biến động thực tế tế cả bên trong và bên ngoài càng lớn càng nên áp dụng chế độ tỷ giá linh hoạt Độ tin cậy của cơ quan lập chính sách chống lạm Độ tin cậy của cơ quan lập phát càng thấp càng nên áp dụng chế độ tỷ giá cố chính sách định. Nguồn: Báo cáo của IMF (2006) Tuy nhiên, các quốc gia đăng ký với IMF và cách vận hành chế độ tỷ giá thực tế của các quốc gia đó có thể khác nhau, có thể là điều hành theo tín hiệu của thị trường. Do đó, bên cạnh cách phân loại chế độ tỷ giá hối đoái của IMF còn có một số phân loại chế độ tỷ giá thực khác, điển hình như cách phân loại chế độ tỷ giá thực tế của Reinhart và Rogoff (2004) (R-R), khác với cách phân loại của IMF- báo cáo chế độ tỷ giá dựa trên thông tin mà các quốc gia thành viên cung cấp, không phản ánh được sự khác biệt giữa chế độ tỷ giá trên thực tế và về mặt pháp lý.
Cách phân loại của Reinhart- Rogoff (RR) dựa vào động thái tỷ giá hối đoái thực tế và có đặc điểm hấp dẫn là phân biệt giữa bối cảnh lạm phát rất cao và tình trạng mất giá không kiểm soát được (cơ chế “rơi tự do”). Cách phân loại của R-R được chia như sau: ‾ Chế độ tỷ giá cố định: chế độ tỷ giá được thông báo là cố định và được duy trì cố định, chính sách tiền tệ được neo vào chính sách đối ngoại. 9 ‾ Chế độ neo tỷ giá: neo tỷ giá trung tâm với đồng tiền khác theo một tỷ lệ cố định, dao động trong biên độ hẹp, ngân hàng trung ương sẵn sàng can thiệp để duy trì tỷ giá này; ngân hàng trung ương có thể điều chỉnh tỷ giá trung tâm nhưng không thường xuyên. ‾ Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý: tỷ giá được xác định bởi thị trường, nghĩa là không có tỷ giá chính thức được công bố tuy nhiên chính phủ có một mức tỷ giá mục tiêu ngầm đối với tỷ giá; ngân hàng trung ương chủ động can thiệp để làm mềm độ biến động của tỷ giá.
‾ Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn: tỷ giá hối đoái hoàn toàn được xác định bởi thị trường, ngân hàng trung ương không có tỷ giá mục tiêu ngầm cũng như ít can thiệp. ‾ Chế độ tỷ giá “Rơi tự do”: chế độ tỷ giá về pháp lý có thể thuộc bất kì loại nào nhưng thực tế quốc gia đang rơi vào khủng hoảng.2 Tăng trưởng kinh tế 2.1 Khái niệm Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập/sản phẩm bình quân đầu người hoặc thu nhập/sản phẩm quốc dân (Perkin, 2006). Theo Griffith và Reenen (2004) định nghĩa tăng trưởng kinh tế là tăng GDP trên giờ lao động trên một đơn vị thời gian. Tăng trưởng kinh tế thực chất là sự lớn mạnh của nền kinh tế chỉ đơn thuần về mặt số lượng.
Tăng trưởng kinh tế được hiểu một cách khá thống nhất là chỉ sự tăng thu nhập trên đầu người. Nếu sản xuất hàng hóa và dịch vụ trong một quốc gia tăng lên, bằng bất cứ cách gì đó, và cùng với tăng trưởng kinh tế là thu nhập trung bình tăng, thì quốc gia đó đạt được tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế là một chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng được rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm. Có nhiều khái niệm được định nghĩa khác nhau nhưng tăng trưởng kinh tế được hiểu khá thống nhất là sự tăng sản lượng thực tế của một nền kinh 10 tế trong một khoảng thời gian nhất định.
Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế và là mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển.