Tổng quan nghiên cứu

Làn sóng di cư lao động nhằm tìm kiếm việc làm tại các đô thị lớn và thị trường quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ tại Việt Nam. Số liệu thống kê ghi nhận khoảng 1,24 triệu người di cư nội địa trong độ tuổi từ 15 trở lên, trong đó phụ nữ chiếm 57,7% và có tới 78,4% tham gia trực tiếp vào lực lượng lao động. Đồng thời, cả nước có trên 1 triệu lượt người tham gia xuất khẩu lao động tại 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Thực trạng kinh tế này mang lại nguồn kiều hối quý giá giúp nâng cao điều kiện sinh hoạt hộ gia đình, song cũng tạo ra khoảng trống lớn trong đời sống tâm lý và hoạt động giáo dục của con em họ ở quê nhà.

Đề tài tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Đánh giá thực trạng và mức độ ảnh hưởng của việc cha mẹ đi làm xa đối với hoạt động học tập của trẻ em trong độ tuổi từ 11 đến 17 tuổi. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là làm rõ bức tranh học tập trên hai phương diện căn bản gồm kết quả học tập và các vấn đề trường học như bạo lực học đường, khả năng tiếp thu bài giảng, mối quan hệ với giáo viên cùng ý thức chấp hành nội quy.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai thực địa tại 4 trường phổ thông thuộc hai tỉnh Thái Nguyên và Thái Bình trong giai đoạn năm học 2020 - 2021. Ý nghĩa học thuật và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc xác lập hệ thống dữ liệu thực chứng cho chuyên ngành Tâm lý học học đường tại Việt Nam. Công trình cung cấp giải pháp can thiệp nhằm giảm thiểu từ 15% đến 25% các nguy cơ sa sút học lực và khủng hoảng tâm lý ở nhóm học sinh thiếu vắng sự chăm sóc trực tiếp từ cha mẹ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng đa dạng các khung lý thuyết tâm lý học và xã hội học hiện đại. Lý thuyết kinh tế di cư mới của Stark và Bloom kết hợp góc nhìn xã hội học gia đình của Dreby được sử dụng để phân tích di cư như một chiến lược kinh tế hộ gia đình đi kèm sự biến động cấu trúc chăm sóc. Bên cạnh đó, Thuyết gắn bó của John Bowlby cùng mô hình công cụ gắn bó cha mẹ của Parker và cộng sự đóng vai trò định hình các chiều kích tương tác giữa người chăm sóc và trẻ vị thành niên. Đồng thời, Thuyết phục hồi tâm lý của Hu và Gan được tích hợp để giải thích nội lực tự điều chỉnh của học sinh.

Năm khái niệm trung tâm được chuẩn hóa bao gồm: Cha mẹ đi làm xa (người cha, người mẹ hoặc cả hai rời nơi cư trú làm việc từ 6 tháng trở lên); Trẻ em có cha mẹ đi làm xa (trẻ dưới 18 tuổi ở lại địa phương sống cùng người thân); Hoạt động học tập (quá trình lĩnh hội tri thức văn hóa - xã hội để phát triển tâm lý); Vấn đề trường học (các rào cản về tiếp thu, kỷ luật, xung đột thầy trò và bạo lực học đường); Năng lực phục hồi tâm lý (khả năng tự điều chỉnh cảm xúc, tư duy tích cực và huy động nguồn lực hỗ trợ khi gặp nghịch cảnh).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu khảo sát tổng số mẫu gồm 327 học sinh (158 nam, chiếm 48,3% và 169 nữ, chiếm 51,7%), độ tuổi trung bình là 13,01 tuổi. Trong đó, nhóm có cha mẹ đi làm xa gồm 211 em (chiếm 64,5%) và nhóm đối chứng sống cùng cả cha mẹ gồm 116 em (chiếm 35,5%). Trong nhóm có cha mẹ đi làm xa, 78,7% đi làm trong nước, 9,0% đi làm ở nước ngoài; tỷ lệ có cha đi làm xa chiếm 46,9%, mẹ đi làm xa chiếm 15,6% và cả hai cha mẹ cùng đi xa chiếm 37,4%.

Quy trình chọn mẫu sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích kết hợp đối chứng tại 4 trường đạt chuẩn quốc gia: THCS Dương Thành (122 học sinh có cha mẹ đi làm xa), THCS Kha Sơn (38 học sinh có cha mẹ đi làm xa), THPT Khánh Hòa (90 học sinh có cha mẹ đi làm xa) tại Thái Nguyên và Trường Tiểu học - THCS Thụy Thanh tại Thái Bình (hơn 130 học sinh có cha mẹ đi làm xa).

Bộ công cụ thu thập dữ liệu gồm Thang đo Vấn đề trường học (19 items, hệ số KMO = 0,837, phân tích nhân tố khẳng định giải thích 53,29% phương sai dữ liệu), Thang đo Gắn bó của trẻ với người chăm sóc (25 items, độ tin cậy Cronbach's Alpha từ 0,693 đến 0,796), và Thang đo Hồi phục tâm lý (27 items, Alpha từ 0,60 đến 0,72). Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 5 khách thể gồm 2 học sinh, 2 người chăm sóc và 1 giáo viên. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 23.0 với các kỹ thuật thống kê mô tả, kiểm định T-test độc lập, phân tích tương quan Pearson và hồi quy tuyến tính đa biến nhằm đảm bảo tính khách quan và kiểm soát tối đa sai số đo lường.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, điểm trung bình chung học tập của trẻ có cha mẹ đi làm xa đạt mức khá, phổ biến ở mức 7,0 trên thang điểm 10. Tỷ lệ học sinh đạt điểm dưới trung bình ở từng môn học tương đối thấp: môn Toán chiếm 5,5%, môn Ngữ văn và Ngoại ngữ cùng ở mức 3,5%. Tỷ lệ điểm trung bình chung dưới 5 điểm chỉ chiếm 0,5%, thấp hơn tỷ lệ học lực yếu kém bình quân dao động từ 2% đến 7% theo báo cáo chung của 4 trường khảo sát.

Thứ hai, học sinh có cha mẹ đi làm xa đối diện với trở ngại lớn nhất ở khía cạnh tiếp thu bài giảng với điểm trung bình đạt 7,56 trên thang điểm tối đa 17,00. Trong đó, có 33,0% học sinh thừa nhận kết quả học tập chưa đạt mức mong đợi của bản thân. Ngược lại, vấn đề chấp hành nội quy trường học xuất hiện ở mức thấp nhất với điểm trung bình chỉ 1,34 trên thang điểm 9,00.

Thứ ba, các vấn đề bạo lực học đường ghi nhận điểm trung bình là 3,00 trên thang 16,00. Tình trạng học sinh bị bàn tán, nói xấu sau lưng và cô lập bạn bè diễn ra phổ biến hơn ở nhóm trẻ vắng bóng cả cha lẫn mẹ hoặc vắng mẹ đơn lẻ so với nhóm chỉ có cha đi làm xa.

Thứ tư, phân tích hồi quy cho thấy sự chăm sóc ấm áp từ người giám hộ thay thế và năng lực phục hồi tâm lý đóng vai trò là yếu tố bảo vệ vững chắc. Ngược lại, phong cách kiểm soát quá mức từ người chăm sóc làm gia tăng đáng kể các xung đột học đường của học sinh.

Thảo luận kết quả

Khó khăn về tiếp thu xuất phát từ việc thiếu vắng sự kèm cặp, hướng dẫn bài vở trực tiếp tại nhà. Khi cha mẹ đi làm xa, trẻ phải đảm nhận thêm công việc nội trợ, chăm sóc bản thân hoặc chăm sóc ông bà, dẫn đến việc quỹ thời gian tự học bị thu hẹp. Kết quả này tương đồng với các công bố quốc tế của nhóm tác giả Zhao (2014) và Lu (2016) khi chỉ ra sự gián đoạn giáo dục gia đình làm suy giảm hiệu quả tiếp thu kiến thức.

Tuy nhiên, điểm trung bình học tập vẫn giữ ở mức khá nhờ vào sự hỗ trợ tài chính từ kiều hối, tạo điều kiện cho trẻ mua sắm đồ dùng học tập và tham gia các lớp bồi dưỡng. Kết quả này củng cố luận điểm của Sun và cộng sự (2015) về tác động bù đắp của kinh tế đối với giáo dục. Toàn bộ dữ liệu so sánh có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột thể hiện điểm trung bình các môn học giữa hai nhóm học sinh, kết hợp cùng bảng ma trận hệ số hồi quy chuẩn hóa để minh họa rõ nét mức độ tác động của từng biến độc lập lên vấn đề trường học.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Ban giám hiệu các trường phổ thông cần chỉ đạo Tổ tư vấn tâm lý học đường phối hợp cùng giáo viên chủ nhiệm lập hồ sơ theo dõi định kỳ cho 100% học sinh có cha mẹ đi làm xa. Mô hình sàng lọc tâm lý tối thiểu 1 lần mỗi học kỳ cần được vận hành nhằm phát hiện sớm các nguy cơ lệch lạc hành vi, hướng tới mục tiêu giảm 30% tỷ lệ học sinh gặp khó khăn tiếp thu trong vòng 12 tháng.

Thứ hai, cha mẹ đi làm xa cần thiết lập lịch trình giao tiếp cố định với con cái thông qua mạng xã hội hoặc điện thoại với tần suất tối thiểu 3 đến 4 cuộc gọi mỗi tuần, mỗi cuộc kéo dài 20 đến 30 phút. Phụ huynh cần chủ động lắng nghe những khó khăn bài vở thay vì chỉ tập trung vào điểm số, duy trì liên tục trong suốt 6 đến 24 tháng công tác xa nhà để tạo chỗ dựa tinh thần vững chắc cho con.

Thứ ba, Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên cấp xã, phường cần phối hợp tổ chức 2 khóa tập huấn thường niên về kỹ năng nuôi dạy trẻ vị thành niên dành cho ông bà và người chăm sóc thay thế. Chương trình tập trung vào việc giảm thiểu phương pháp giáo dục áp đặt, kiểm soát tiêu cực và nâng cao khả năng thấu hiểu cảm xúc của trẻ.

Thứ tư, Đoàn Thanh niên nhà trường cần xây dựng các câu lạc bộ "Đôi bạn cùng tiến" và tổ chức các chuyên đề rèn luyện kỹ năng phục hồi tâm lý, kiểm soát cảm xúc, thiết lập mục tiêu học tập cho học sinh. Hoạt động này cần duy trì thường xuyên trong từng năm học nhằm nâng cao 25% chỉ số tự lực học tập cho các em.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Tâm lý học, Xã hội học và Giáo dục học có thể sử dụng luận văn như một tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận, cách thức vận dụng các thang đo quốc tế chuẩn hóa và quy trình xử lý dữ liệu SPSS trong nghiên cứu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

Cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên chủ nhiệm tại các trường THCS, THPT có thể khai thác các số liệu thực chứng để xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân hóa, thiết kế phương pháp tiếp cận sư phạm phù hợp và tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề hỗ trợ học sinh có cha mẹ làm việc xa nhà.

Chuyên viên tham vấn tâm lý học đường và nhân viên công tác xã hội có thể ứng dụng mô hình tương quan giữa sự gắn bó của người chăm sóc và năng lực phục hồi tâm lý để thiết kế các chương trình can thiệp trị liệu nhóm, tư vấn tâm lý cá nhân hiệu quả cho thanh thiếu niên nông thôn.

Các nhà hoạch định chính sách an sinh xã hội thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội có thể sử dụng kết quả nghiên cứu làm căn cứ khoa học để hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội, bảo vệ quyền trẻ em đối với nhóm đối tượng chịu ảnh hưởng bởi quá trình dịch chuyển lao động nội địa và xuất khẩu lao động.

Câu hỏi thường gặp

Kết quả học tập thực tế của học sinh có cha mẹ đi làm xa đạt mức độ nào? Học sinh có cha mẹ đi làm xa trong nghiên cứu đạt điểm trung bình chung học tập ở mức khá, xấp xỉ 7,0 trên thang điểm 10. Tỷ lệ học sinh bị điểm dưới trung bình ở môn Toán chỉ chiếm 5,5%, môn Văn và Ngoại ngữ là 3,5%. Tỷ lệ điểm trung bình chung dưới 5 điểm chỉ là 0,5%, cho thấy thành tích học tập vẫn được duy trì ổn định.

Khó khăn học đường lớn nhất mà nhóm học sinh này phải đối mặt là gì? Trở ngại lớn nhất của học sinh là vấn đề tiếp thu bài học với điểm trung bình 7,56 trên thang điểm 17,00. Khảo sát thực tế ghi nhận 33,0% học sinh cảm thấy kết quả học tập chưa tương xứng với kỳ vọng do thiếu người đôn đốc, kèm cặp trực tiếp và phải gánh vác nhiều công việc gia đình.

Việc vắng mặt của người cha hay người mẹ gây ảnh hưởng nặng nề hơn đến trẻ? Nghiên cứu cho thấy sự vắng mặt của người mẹ hoặc cả hai cha mẹ tạo ra những xáo trộn tâm lý và nguy cơ bạo lực học đường cao hơn so với trường hợp chỉ có người cha đi làm xa. Người mẹ thường đảm nhận vai trò chăm sóc cảm xúc và giám sát học tập chi tiết, nên sự thiếu vắng này tạo ra khoảng trống lớn trong sinh hoạt hàng ngày của trẻ.

Phong cách chăm sóc của người giám hộ thay thế ảnh hưởng ra sao đến học sinh? Sự quan tâm ấm áp, động viên từ người chăm sóc là yếu tố bảo vệ giúp trẻ vượt qua nghịch cảnh. Ngược lại, nếu người giám hộ áp dụng phong cách kiểm soát quá mức hoặc bao bọc cực đoan, trẻ sẽ có xu hướng gia tăng xung đột với giáo viên và phát sinh các vấn đề hành vi tại trường học.

Nội lực tâm lý nào giúp học sinh tự vượt qua rào cản khi sống xa cha mẹ? Năng lực phục hồi tâm lý thông qua kỹ năng xác định mục tiêu rõ ràng, kiểm soát cảm xúc tiêu cực và duy trì tư duy lạc quan là yếu tố nội tại quan trọng nhất. Khả năng chủ động tìm kiếm sự giúp đỡ từ bạn bè và thầy cô giúp trẻ nhanh chóng thích nghi và duy trì kết quả học tập tốt.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động đa chiều của việc cha mẹ đi làm xa đến hoạt động học tập của học sinh từ 11 đến 17 tuổi.
  • Khảo sát thực chứng khẳng định điểm trung bình học tập của trẻ vẫn đạt mức khá (khoảng 7,0/10) nhưng khó khăn về tiếp thu kiến thức là rào cản lớn nhất, chiếm 33,0% ý kiến phản hồi.
  • Nghiên cứu chứng minh vai trò then chốt của năng lực phục hồi tâm lý và sự gắn bó ấm áp từ người chăm sóc như những yếu tố bảo vệ quan trọng giúp trẻ vượt khó.
  • Phân tích chỉ rõ nguy cơ gia tăng xung đột học đường khi người chăm sóc thay thế áp dụng phương pháp kiểm soát tiêu cực hoặc thiếu vắng sự kết nối cảm xúc từ cha mẹ.
  • Công trình đóng góp bộ dữ liệu khảo sát 327 học sinh tại Thái Nguyên và Thái Bình, mở ra hướng ứng dụng thực tế cho công tác tham vấn tâm lý học đường tại các địa phương có tỷ lệ di cư lao động cao.

Kế hoạch tiếp theo cần tập trung triển khai thử nghiệm các mô hình phòng tham vấn học đường và xây dựng cẩm nang hướng dẫn đồng hành cùng con dành cho cha mẹ di cư trong giai đoạn 2024 - 2026. Các cơ sở giáo dục, gia đình và nhà nghiên cứu cần phối hợp chặt chẽ để kiến tạo môi trường học đường an toàn, nhân văn, hỗ trợ toàn diện cho sự phát triển của trẻ em có cha mẹ đi làm xa.