MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Xu hướng cha mẹ ở các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa ra thành phố hoặc các nước phát triển tìm kiếm việc làm ngày càng tăng trong những năm gan đây. Theo tổng cục thống kê số người di cư nội địa năm 2015 độ tuổi từ 15 trở lên khoảng 1,24 triệu người, trong đó 57,7% là phụ nữ, có tới 78,4% tham gia vào thành phan lao động và đa số di chuyên đến các thành thị. Ngoài ra tính đến hết năm 2019, Việt Nam có khoảng hơn 1.000 người đi xuất khẩu lao động đến 40 quốc gia, vùng lãnh thé khác nhau trên thé giới (Tông cục Thống kê, 2020) trong đó nữ chiếm khoảng 33,5%.
Trong số đó có rất nhiều người là cha, mẹ đã bỏ lại con cái ở nhà cho người thân chăm sóc. Đặc biệt, có gia đình cả cha, mẹ đều đi làm ăn xa bỏ lại con cái cho người thân nuôi dưỡng và chăm sóc. Không thể phủ nhận việc di cư lao động có tác động tích cực đến kinh tế xã hội, đặc biệt là nguồn cung cấp tài chính cho gia đình, quê hương. Góp phần nâng cao đời sống cho gia đình và việc nuôi dạy con cái tốt hơn.
Nhưng nó cũng có tác động tiêu cực về mặt tâm lý của trẻ bi bỏ lại ở nông thôn, vùng xâu vùng xa. Cha mẹ đi làm ăn xa bỏ lại con cái ở nhà có ảnh hưởng không nhỏ tới mặt phát triển tâm lý như trẻ có cảm giác cô đơn hơn, có nhiều hành vi tiêu cực, cảm nhận hạnh phúc thấp, luôn đánh giá bản thân thấp (xem Nguyễn Văn Lượt, 2016). Ngoài ra, tình trạng này còn tác động đến việc học tập của trẻ kém hơn so với trẻ có cả cha mẹ ở nhà. Vì luôn thiếu vắng sự chăm sóc của cha, mẹ nhất là trong gia đoạn trẻ phát triển can có sự quan tâm chăm sóc của cha, mẹ.
Trong khi đó trẻ ở lại nông thôn chủ yếu sống cùng ông, bà với khoảng cách hai thế hệ quá xa nhau, sự quan tâm chăm sóc không được đầy đủ, có trường hợp ông bà không bảo đảm sức khỏe bản thân trẻ phải tự lo hết những sinh hoạt của bản thân. Chính vì vậy sự bù đắp về mặt tình cảm của những người chăm sóc trẻ ở nông thôn không thể bằng được cha mẹ nên trẻ luôn có sự thiếu hụt về mặt tâm lý, dẫn đến hậu quả sự phát triển của trẻ có nhiều mặt không bằng với trẻ có cả cha, mẹ ở nhà. Có nhiều nghiên cứu đã chứng minh trẻ có cha, mẹ đi làm ăn xa có nhiều mặt không bằng các trẻ cùng trang lứa có cả cha, mẹ ở nhà. Như về mặt cảm xúc của trẻ, hành vi tiêu cực, cảm nhận hạnh phúc, đánh giá bản thân thấp hơn so với trẻ ở cùng cha mẹ có các nghiên cứu của Ye Jingzhong va Pan Lu về “cô đơn” là từ phô biến nhất của trẻ em bị bỏ lại ở nông thôn chọn để mưu tả cảm xúc của chúng; “khó khăn về cảm xúc của trẻ có bố mẹ ổi làm ăn xa cao hơn trẻ em ở cùng cha, mẹ” của Fan và cộng sự năm 2010; Su và cộng sự năm 2013 nhấn mạnh rằng “Cảm giác về sự cô đơn là noi buôn lớn nhất cua trẻ em bị bỏ lại ở nông thôn Trung Quốc phải gánh chịu ”; các nghiên cứu chỉ ra chỉ số hạnh phúc của trẻ có cha mẹ làm ăn xa thấp hơn trẻ ở cùng cha mẹ như nghiên cứu của Graham và Jordan (2011) quan tâm đến chỉ số hạnh phúc của những đứa trẻ bị bỏ lại ở Đông Nam Á.
Các kết quả tương tự cũng được báo cáo trong nghiên cứu của Ren và Trieman (2013) khi họ nhận thấy bằng chứng rõ nhất là “Nhom trẻ văng cả cha và mẹ ít hạnh phúc nhất, có điểm số tram cảm cao nhất”. Trẻ tự đánh giá bản thân thấp (Shen và cộng sự 2014; Xiaojun và các cộng sự, 2015). Trẻ em có hành vi tiêu cực thé hiện rõ ở nhóm trẻ trai và có mẹ di cư đi làm ăn xa như tăng động (Fan, 2010); có nhiều hành vi nguy hại cho sức khỏe như hút thuốc lá, uống rươu, nghiện chất kích thích (Lu và các cộng sự 2016; Wen và các cộng sự, 2012);. Về mặt lý luận, các nhà nghiên cứu về tác động của cha mẹ đi làm ăn xa đến học tập của trẻ đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới như về thành tích học tập (Sun và cộng sự, 2015), việc bắt nạt ở trường học (Zhang va cộng sự, 2019), thành tích học tập (Zhao và cộng sự, 2019).
Tuy nhiên, ở Việt Nam, mặc dù đã có những những nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của trẻ có cha mẹ đi làm xa như van đề dinh dưỡng ở trẻ (Cường, 2015), long tự trọng của trẻ (Mai và song sự, 2019), cảm nhận hạnh phúc của trẻ (Lượt và cộng sự, 2018), vấn đề hành vi của trẻ có cha mẹ đi làm xa (Lượt và cộng sự, 2017). nhưng nghiên cứu một cách hệ thống về sự tác động của cha mẹ đi làm xa đến việc học tập của trẻ còn chưa được tiễn hành. Do vậy, có thể thấy đây là một khoảng trống trong nghiên cứu về tác động của cha mẹ đi làm xa đến trẻ. Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Tac động của cha mẹ đi làm xa đên hoc tập của trẻ ” 2.
Đối tượng và khách thể nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Tác động của cha me di làm xa đến việc học tập của trẻ. - Khách thé: Trẻ em từ 11 đến 17 tuổi còn đang đi học 3. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu tác động của cha mẹ đi làm xa đối với việc học tập của trẻ, trên cơ sở đó đề xuất những khuyến nghị cho gia đình, nhà trường, thầy cô nhằm nâng cao chất lượng học tập cho trẻ có cha mẹ đi làm xa. Nhiệm vụ nghiên cứu Đề thực hiện các mục đích nghiên cứu trên, đề tài có những nhiệm vụ cơ bản sau: - Xây dựng cơ sở lý luận về van đề nghiên cứu: làm rõ khái niệm và các chỉ báo đo lường vấn đề tác động cha mẹ đi làm ăn xa đối với việc học tập của trẻ.
- Điều tra, khảo sát thực trạng tác động của cha me di làm ăn xa đến việc học tập của trẻ ở các khía cạnh kết quả học tập, vấn đề bạo lực học đường, tiếp thu, mối quan hệ với thầy/cô giáo và chấp hành nội qui trường học. - Đê xuât các khuyên nghị nhăm nâng cao chât lượng học tập của trẻ có cha mẹ làm ăn xa. Câu hỏi nghiên cứu (1). Kết quả học tập ở trẻ có cha mẹ đi làm xa như thế nào? (2).
Các vẫn đề trường học ở trẻ có cha mẹ đi làm xa như thế nào? (3). Cha mẹ đi làm xa tác động đến kết quả học tập, các vấn đề trường học của trẻ như thế nào? (4). Yếu tố nào ảnh hưởng tới van đề trường học của trẻ có cha me đi làm xa? 6. Giả thuyết khoa học HI: Kết quả học tập của trẻ có cha mẹ đi làm xa thấp hơn so với trẻ ở cùng cha mẹ; H2: Các vấn đề trường học các em gặp phải nhiều hơn so với trẻ ở cùng cha mẹ; H3: Cha mẹ đi làm xa tác động tiêu cực đến kết quả học tập và vấn đề trường học của trẻ; H4: Người chăm sóc quan tâm, khả năng phục hồi tâm lý ở chính trẻ có cha mẹ đi làm xa là yếu tố bảo vệ, trong khi đó người chăm sóc kiểm soát là yếu tố gia tăng các van đề trường học ở trẻ có cha mẹ đi làm xa 7.
Giới hạn phạm vỉ nghiên cứu - Nội dung: Luận văn chỉ nghiên cứu tác động của cha mẹ đi làm xa đến học tập của trẻ ở các khía cạnh: kết quả học tập và các van đề trường học của trẻ như bạo lực học đường; tiếp thu bài học; van đề với thầy cô và vấn đề chấp hành nội qui học tập. - Địa bàn: Tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Thái Bình - Khách thé: Chỉ nghiên cứu trẻ có cha mẹ di làm xa từ 6 tháng trở lên, đang theo học các trường THCS, THPT trên địa ban 2 tỉnh Thái Nguyên và Thái Bình. Các phương pháp nghiên cứu Tác giả sẽ trình bày rõ các phương pháp nghiên cứu trong chương 2, trong nghiên cứu nay tôi chủ yéu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp phân tích tài liệu - Phương pháp điều tra bảng hỏi - Phương pháp thông kê toán học bằng phần mềm SPSS - Phương pháp phỏng van sâu. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TÁC ĐỘNG CUA CHA MẸ ĐI LAM XA DEN VIỆC HỌC TẬP CUA TRE 1.
Sơ lược tổng quan van đề nghiên cứu Điểm luận các công trình nghiên về tác động của cha mẹ đi làm xa tới van đề trường học của trẻ trong thời gian gần đây, có thé thấy, xét về tinh chat tác động, có thê có những tác động tích cực, tiêu cực và không rõ ràng tới việc học tập của trẻ. Xét theo khía cạnh tác động, có thể khái quát sự tác động cha mẹ đi làm xa đến việc học tập của trẻ thông qua các khía cạnh cụ thé như kết quả hoc tập, mối quan hệ với thầy/cô, bao lực hoc đường. Tác động của cha mẹ đi làm xa tới cơ hội và kết quả học tập của trẻ * Những tác động tích cực Một số nghiên cứu chỉ ra rằng việc cha mẹ đi làm xa tác động tích cực việc học tập của trẻ thông qua việc tăng cơ hội, thời gian học tập của trẻ (Antman, 2012; Sun và cộng sự, 2015; Roy và cộng sự 2015; Nazridod, 2017). Antman và cộng sự (2012) sử dụng nghiên cứu hồi cố dựa trên dữ liệu cha mẹ di cư từ Mexico sang Mỹ trong thời gian từ 1982 — 2007 cho thấy, trẻ có cha mẹ di cư sang Mỹ có kết quả học tập tốt hơn qua các chỉ báo như số năm hoàn thành chương trình giáo dục phô thông là 7.95 năm và việc cha di cư tốt cho việc học tập của trẻ hơn so với mẹ.
Nghiên cứu so sánh giữa nhóm trẻ em bị bỏ lại và nhóm trẻ em không bị bỏ lại, cho thấy, những trẻ em bị bỏ lại có sự điều chỉnh giáo dục tốt hơn (sự tham gia ở trường học tốt hơn) so với những trẻ em không bị bỏ lại (Sun và cộng sự, 2015).