chương 1, tác giả đã trình bày về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và cuối cùng là kết cấu của luận văn. Chương kế tiếp tác giả tiếp tục trình bày về cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan về ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, tác giả sẽ tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu của đề tài. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Tổng quan về cấu trúc vốn của doanh nghiệp 2.1 Khái niệm về cấu trúc vốn Cấu trúc vốn là sự kết hợp của nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho quyết định đầu tư của doanh nghiệp.
Cấu trúc vốn tối ưu xảy ra ở điểm mà tại đó tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn, tối thiểu hóa rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận. Cấu trúc vốn là thuật ngữ tài chính nhằm mô tả nguồn gốc và phương pháp hình thành nên nguồn vốn để doanh nghiệp có thể sử dụng mua sắm tài sản, phương tiện vật chất và đầu tư cho hoạt động kinh doanh của mình. Thuật ngữ "cấu trúc vốn" được định nghĩa bởi Weston và Brigham (1979) như các nguồn tài chính thường trực của công ty, đại diện của nợ dài hạn, cổ phiếu ưu đãi và giá trị ròng. Theo Van Horne và Wachowicz (1995), cấu trúc vốn là sự kết hợp của tài chính lâu dài vĩnh viễn của một công ty đại diện bởi nợ, cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu phổ thông.
Theo Saleem (2013), cấu trúc vốn của một công ty được định nghĩa là các lựa chọn thay thế tài chính khác nhau của các tài sản của nó. Sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu để tài trợ cho tài sản dài hạn của doanh nghiệp được quy định như cấu trúc vốn của công ty. Nợ và vốn chủ sở hữu là những thành phần cơ bản của cấu trúc vốn của công ty. Theo Umar (2012), nợ và vốn chủ sở hữu là các lựa chọn tài chính được sử dụng bởi tất cả các doanh nghiệp.
Với mục đích hoạt động một công ty, mức độ của nợ hoặc việc lựa chọn sử dụng vốn chủ sở hữu của các công ty tài trợ cho các hoạt động của nó đại diện cho cấu trúc vốn của công ty.2 Vai trò của cấu trúc vốn Hệ số nợ đo lường mức độ tài chính của doanh nghiệp vay mượn từ bên ngoài, cho biết trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp thì nợ chiếm bao nhiêu phần trăm. Dựa vào hệ số nợ giúp nhà đầu tư có cái nhìn khái quát về sức mạnh tài chính, cấu trúc tài chính của doanh nghiệp và làm thế nào để doanh nghiệp có thể chi trả cho các hoạt động. Về nguyên tắc, hệ số này càng nhỏ, có nghĩa là nợ phải trả chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng tài sản hay tổng nguồn vốn thì doanh nghiệp sẽ chủ động hơn về mặt tài chính. Hệ số này càng lớn thì khả năng gặp khó khăn trong việc trả nợ hoặc phá sản của doanh nghiệp càng cao.
Trên thực tế, nếu nợ phải trả chiếm quá nhiều so với nguồn vốn chủ sở hữu, có nghĩa là doanh nghiệp đi vay mượn nhiều hơn số vốn hiện có (nói cách khác là doanh nghiệp đang đi chiếm dụng vốn của các đơn vị và cá nhân bên ngoài), nên doanh nghiệp có thể gặp rủi ro trong việc trả nợ, đặc biệt doanh nghiệp càng gặp nhiều khó khăn khi lãi suất ngân hàng ngày một tăng cao. Các chỉ số nợ cung cấp thông tin bảo vệ chủ nợ trong tình huống mất khả năng thanh toán của chủ doanh nghiệp và thể hiện năng lực tiếp cận các nguồn tài chính từ bên ngoài, đáp ứng nhu cầu đầu tư và phát triển của doanh nghiệp. Các chủ nợ ngân hàng cũng thường xuyên xem xét, đánh giá kĩ hệ số nợ (và một số chỉ số tài chính khác) để quyết định có cho doanh nghiệp vay hay không. Tuy nhiên, việc sử dụng nợ cũng có ưu điểm, đó là chi phí lãi vay sẽ được trừ vào thuế thu nhập doanh nghiệp.
Do đó, doanh nghiệp phải cân nhắc giữa rủi ro về tài chính và lợi ích của vay nợ để đảm bảo một tỷ lệ hợp lý nhất.3 Các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc vốn Tỷ trọng nợ 9 Tỷ trọng này cho thấy bao nhiêu phần trăm tài sản của công ty được tài trợ bằng vốn vay. Hệ số này dùng để xác định khả năng đảm bảo trả nợ của doanh nghiệp. Hệ số nợ càng thấp thì các khoản nợ càng được đảm bảo hoàn trả trong trường hợp doanh nghiệp phá sản. Ngược lại, nếu hệ số này càng cao thì doanh nghiệp càng dễ bị mất khả năng thanh toán.
Thông thường nếu hệ số nợ ở mức cao, có nghĩa là công ty thường thông qua các khoản nợ để tài trợ cho các hoạt động của mình. Nếu một công ty vay nợ nhiều để tài trợ cho mức chi phí hoạt động cao của doanh nghiệp thì nó có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn so với việc phát hành cổ phiếu. Và nếu lợi nhuận công ty thu được cao hơn nhiều so với chi phí đi vay thì các cổ đông của công ty cũng sẽ thu được nhiều lợi ích. Tuy nhiên, lợi nhuận thu được từ các hoạt động đầu tư và kinh doanh từ các khoản tiền đi vay có thể sẽ không bù đắp được các chi phí đi vay dẫn tới việc công ty có thể bị phá sản.
Vì vậy, vay nợ hay phát hành thêm cổ phiếu là một bài toán khó đối với các doanh nghiệp. Tỷ trọng nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này phản ánh, trong tổng nợ vay của doanh nghiệp thì nợ ngắn hạn chiếm tỷ lệ bao nhiêu phần trăm trên tổng tài sản. Qua đó, thể hiện rõ về tình hình vay nợ và số nợ ngắn hạn dễ dẫn đến mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp là cao hay thấp. Từ đó, phần nào đánh giá về tính bền vững tình hình tài chính trong doanh nghiệp.
Tỷ trọng nợ dài hạn Chỉ tiêu này phản ánh, trong tổng nợ vay của doanh nghiệp thì nợ dài hạn chiếm tỷ lệ bao nhiêu phần trăm trên tổng tài sản. Vì thời hạn trả lâu hơn nợ ngắn hạn nên đây không phải là mối lo cho các doanh nghiệp như nợ ngắn hạn.2 Tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 2.1 Lý thuyết về hiệu quả hoạt động kinh doanh 2.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một vấn đề được các nhà kinh tế và quản lý kinh tế rất quan tâm. Mọi hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều hướng tới mục tiêu hiệu quả. Các doanh nghiệp đều có mục đích chung là làm thế nào để một đồng vốn bỏ vào kinh doanh mang lại hiệu quả cao nhất, khả năng sinh lời nhiều nhất.
Vậy hiệu quả hoạt động kinh doanh là gì? Trước hết ta tìm hiểu hoạt động kinh doanh là gì và như thế nào thì được gọi là hiệu quả? Hoạt động kinh doanh theo luật định, là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Hoạt động kinh doanh có thể được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau, chẳng hạn: • Theo tính chất của hoạt động, chúng ta có hoạt động sản xuất (sản phẩm hoặc dịch vụ) và hoạt động thương mại. • Theo bản chất kinh tế, chúng ta có các doanh nghiệp công nghiệp, thương nghiệp, nông nghiệp, tài chính… Thế còn hiệu quả là gì? Và thế nào là hiệu quả hoạt động kinh doanh? Ngày nay, khi đề cập đến vấn đề hiệu quả, người ta vẫn chưa có một khái niệm thống nhất. Bởi vì xét trên mỗi lĩnh vực khác nhau, với những góc độ xem xét khác nhau thì người ta có những khái niệm khác nhau về hiệu quả, và thông thường khi nói đến hiệu quả của một lĩnh vực nào đó thì người ta gắn ngay tên của lĩnh vực đó liền ngay sau hiệu quả.
Ở đây, chúng ta chỉ xem xét các vấn đề hiệu quả trên lĩnh vực kinh tế. Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu 11 kinh tế tại một thời kì nào đó. Nếu đứng trên phạm vi từng yếu tố riêng lẻ thì chúng ta có phạm trù hiệu quả kinh tế, và xem xét vấn đề hiệu quả trong phạm vi doanh nghiệp thì hiệu quả kinh tế chính là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hiểu theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh tế là hệ số giữa kết quả thu về và chi phí bỏ ra để được hiệu quả đó.
Đối với một doanh nghiệp, vấn đề hiệu quả kinh doanh luôn được đặt lên hàng đầu. Nó là yếu tố đầu tiên và tiên quyết đến thành công hay sự tồn tại của một doanh nghiệp. Tại sao lại có thể nói như vậy? Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm hiệu quả kinh doanh. Nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng: "Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá".
Như vậy, hiệu quả được đồng nghĩa với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, có thể do tăng chi phí mở rộng sử dụng nguồn lực sản xuất. Nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này doanh nghiệp cũng đạt hiệu quả. Quan điểm khác nữa lại cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là tỷ lệ so sánh tương đối giữa kết quả và chi phí để đạt được kết quả đó”. Ưu điểm của quan điểm này là phản ánh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế.
Tuy nhiên chưa biểu hiện được tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chưa phản ánh được hết mức độ chặt chẽ của mối liên hệ này. Hay cũng có thể hiểu theo một cách khác: “Hiệu quả sản xuất kinh doanh là các chỉ tiêu tổng hợp, đánh giá sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh sự khai thác các nguồn lực một cách tốt nhất phục vụ các mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp”. Từ các quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát hiệu quả kinh doanh của một hiện tượng (hoặc một quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định.