Chương 1: Giới thiệu tổng quan đề tài nghiên cứu. - Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận - Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách.
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Lý thuyết về cấu trúc vốn 2. Khái niệm về cấu trúc vốn Trên thế giới, khái niệm về cấu trúc vốn của doanh nghiệp có nhiều quan điểm khác nhau. Có thể liệt kê một số khái niệm được sử dụng phổ biến như sau: - Stephen A.
Westerfield và Bradford D. Jordan (2003) cho rằng: cấu trúc vốn của doanh nghiệp là sự kết hợp của việc sử dụng vốn cổ phần và nợ ở một tỷ lệ nhất định để tài trợ cho hoạt động kinh doanh. - Theo Colin Firer và cộng sự (2004), cấu trúc vốn đề cập đến sự pha trộn của vốn chủ sở hữu và nợ mà một doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp. - Macguigan và cộng sự (2006) lại cho rằng cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được sử dụng cho quyết định tài trợ doanh nghiệp.
Như vậy, cấu trúc vốn được hiểu như là một thuật ngữ nhằm mô tả nguồn gốc và phương pháp hình thành nên nguồn vốn để doanh nghiệp có thể sử dụng cho việc mua sắm tài sản, phương tiện vật chất hữu hình và hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Các chỉ tiêu đo lƣờng cấu trúc vốn (1) Nợ phải trả Theo thông tư 200/2014/TT - BTC, nợ phải trả là loại tài khoản dùng để phản ánh các khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh nghiệp phải trả, phải thanh toán cho các chủ nợ, bao gồm các khoản nợ tiền vay, các khoản nợ phải trả cho người bán, cho Nhà nước, cho công nhân viên và các khoản phải trả khác. Nợ phải trả của doanh nghiệp bao gồm: Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. 7 Nợ ngắn hạn: Là khoản tiền mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm trả trong vòng 1 năm hoặc trong 1 chu kì kinh doanh bình thường.
Nợ ngắn hạn bao gồm các khoản: - Vay ngắn hạn. - Khoản nợ dài hạn đến hạn trả. - Các khoản tiền phải trả cho người bán, người cung cấp, người nhận thầu. - Thuế và các khoản phải nộp cho Nhà nước.
- Tiền lương, phụ cấp có tính chất tiền thưởng phải trả cho người lao động. - Các khoản chi phí phải trả. - Các khoản nhận ký quỹ, ký cược ngắn hạn. - Các khoản phải trả ngắn hạn khác.
Nợ dài hạn: Là các khoản nợ mà thời gian trả nợ trên 1 năm. Nợ dài hạn bao gồm các khoản sau: - Vay dài hạn cho đầu tư phát triển. - Nợ dài hạn phải trả. - Trái phiếu phát hành.
- Các khoản nhận ký quỹ, ký cược dài hạn. - Ký quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm. - Dự phòng phải trả. - Các khoản nợ phải trả dài hạn khác.
(2) Nguồn vốn chủ sở hữu Theo thông tư 200/2014/TT– BTC, nguồn vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán. Nguồn vốn chủ sở hữu do chủ doanh nghiệp và các nhà đầu tư rót vốn hoặc hình thành từ kết quả kinh donah, do đó nguồn vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ. Một doanh nghiệp có thể có một hoặc nhiều chủ sở hữu vốn. Đối với doanh nghiệp Nhà nước, vốn hoạt động do nhà nước giao hoặc đầu tư nên Nhà nước là chủ sở hữu vốn.
Đối với doanh nghiệp liên doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh thì chủ sở hữu vốn là các thành viên tham gia góp vốn hoặc các tổ chức, cá nhân tham gia hùn vốn. Đối với công ty cổ phần thì chủ sở hữu vốn là 8 các cổ đông. Đối với các doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu vốn là cá nhân hoặc chủ hộ gia đình. Nguồn vốn chủ sở hữu phản ánh số hiện có và tình hình tăng, giảm các loại nguồn vốn thuộc chủ sở hữu doanh nghiệp của các thành viên góp vốn trong công ty liên doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh hoặc các cổ đông trong công ty cổ phần.
Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm: - Vốn đóng góp của các nhà đầu tư để thành lập mới hoặc mở rộng doanh nghiệp. Chủ sở hữu vốn của các doanh nghiệp có thể là Nhà nước, cá nhân hoặc các tổ chức tham gia góp vốn các cổ đông mua và nắm giữ cổ phiếu. - Các khoản thặng dư vốn cổ phần do phát hành cổ phiếu cao hơn hoặc thấp hơn mệnh giá. - Các khoản nhận, biếu, tặng, tài trợ (nếu được ghi tăng vốn chủ sở hữu).
- Vốn được bổ sung từ kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp theo quy định của chính sách tài chính hoặc quyết định của các chủ sở hữu vốn, của Hội đồng quản trị. - Các khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản, các quỹ hình thành từ lợi nhuận sau thuế (quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, các quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu, lợi nhuận chưa phân phối. - Giá trị cổ phiếu quỹ làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu. Các tỷ số đo lƣờng cấu trúc vốn Các tỷ số nợ thường được sử dụng để đánh giá, xem xét cấu trúc vốn gọi chung là hệ số cơ cấu tài chính bao gồm: Tỷ số nợ: tỷ số này cho thấy có bao nhiêu phần trăm tài sản của công ty được tài trợ bằng nợ.
Tỷ số nợ (DA)= Tổng nợ theo giá sổ sách Tổng tài sản theo sổ sách 9 Tỷ số nợ ngắn hạn: tỷ số này cho thấy mức độ sử dụng nợ ngắn hạn để tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp, có nghĩa là nguồn tài trợ ngắn hạn chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản (hay nguồn vốn) của doanh nghiệp. Tỷ số nợ ngắn hạn (SDA)= Nợ ngắn hạn theo giá sổ sách Tổng tài sản theo sổ sách Tỷ số nợ dài hạn: cho thấy mức độ sử dụng nợ dài hạn để tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp, có nghĩa là nợ dài hạn chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản (hay nguồn vốn) của doanh nghiệp. Tỷ số nợ dài hạn (LDA)= Nợ dài hạn theo giá sổ sách Tổng tài sản theo sổ sách 2. Lý thuyết về giá trị doanh nghiệp 2.
Khái niệm về giá trị doanh nghiệp Giá trị doanh nghiệp nhìn chung là một giá trị đo lường hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp (Sarma và Rao, 1969; Grossman và Stiglitz, 1977). Theo Ehrahard và Bringham (2003), giá trị doanh nghiệp là tổng giá trị của các bên liên quan với doanh nghiệp bao gồm: các chủ nợ và các cổ đông. Giá trị doanh nghiệp là một trong các thước đo cơ bản được sử dụng trong việc định giá doanh nghiệp, mô hình tài chính, kế toán, phân tích danh mục,. Christiawan và Tarin (2004) kết luận rằng khái niệm đại diện tốt nhất để xác định giá trị của công ty trên thị trường là giá trị nội tại, nhưng việc ước lượng giá trị nội tại lại rất khó khăn bởi việc xác định giá trị nội tại đòi hỏi khả năng để nhận diện các biến có ý nghĩa quyết định đến khả năng sinh lời của một doanh nghiệp.
Những yếu tố này được cho là khác nhau giữa các doanh nghiệp. Vì vậy, giá trị thị trường thường được sử dụng bởi sự dễ dàng trong thu thập dữ liệu. Việc xác định giá trị doanh nghiệp có thể có nhiều kết quả khác nhau tùy thuộc vào phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp. Do đó, cần lựa chọn phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu nghiên cứu, mục đích của nhà quản trị, ngành nghề kinh doanh, tình hình thực tế của doanh nghiệp….
để cho ra kết quả một cách chính xác nhất, phù hợp với nhu cầu nghiên cứu. Các phƣơng pháp xác định giá trị doanh nghiệp Xác định giá trị doanh nghiệp là việc ước tính giá trị của một doanh nghiệp hay lợi ích của doanh nghiệp theo một mục đích nhất định bằng cách sử dụng các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp phù hợp. Xác định giá trị doanh nghiệp theo phƣơng pháp dòng tiền chiết khấu: Theo Damodaran (2006), cơ sở của phương pháp này là nguyên tắc “Giá trị hiện tại”, với giá trị của doanh nghiệp chính là giá trị hiện tại của các dòng tiền mà doanh nghiệp đó kỳ vọng sẽ tạo ra trong tương lai (tức là dòng tiền còn lại sau khi trừ tất cả các chi phí hoạt động, tái đầu tư, thuế nhưng trước khi thanh toán nợ vay và cổ tức) với một suất chiết khấu là chi phí sử dụng vốn bình quân gia quyền (WACC) cụ thể. Công thức: Giá trị doanh nghiệp= ∑ ∞ CFtcủa doanh nghiệp (1+WACC)t t=1 Trong đó: t: Thời gian hoạt động của doanh nghiệp.
CFt: Dòng tiền kỳ vọng của doanh nghiệp. WACC: Chi phí sử dụng vốn bình quân gia quyền. Xác định giá trị doanh nghiệp theo phƣơng pháp dựa trên tài sản: Là phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp dựa trên bảng cân đối kế toán. Các nhà nghiên cứu ủng hộ quan điểm này, cho rằng: Có thể định giá từng tài sản riêng lẻ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp rồi tập hợp lại để có được giá trị doanh nghiệp.
Tuy nhiên, theo Trần Ngọc Thơ và các cộng sự (2005); Damodaran (2006); Nguyễn Minh Kiều (2014), giá trị của doanh nghiệp bằng giá trị tài sản cộng với hiện giá của lá chắn thuế trừ đi hiện giá của chi phí kiệt quệ tài chính liên quan đến nợ. Nhưng lý thuyết M&M (1958) lại chỉ ra rằng: Giá trị của một doanh nghiệp bằng giá trị các khoản nợ và vốn chủ sở hữu nếu doanh nghiệp có sử dụng nợ nhưng không có thuế, và họ cũng cho rằng giá trị doanh nghiệp chỉ bằng giá trị của vốn chủ sở hữu nếu doanh nghiệp không có đòn bẩy tài chính trong trường hợp không có thuế. Dựa trên quan điểm của M&M (1958 và 1963), một số nhà nghiên 1 cứu thực nghiệm như: Antwi và các cộng sự (2012); Ogbulu và các cộng sự (2012) đã đưa ra công thức xác định giá trị doanh nghiệp như sau: Giá trị doanh nghiệp = Giá trị VCSH + Nợ dài hạn chịu lãi suất. Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp dựa theo giá trị tài sản trên cũng thường được sử dụng bởi nhiều nhà định giá, vì họ cho rằng nó đơn giản và có tính chính xác tương đối cao.