Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động của cơ cấu nguồn vốn đến giá trị doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng cơ cấu nguồn vốn và giá trị doanh nghiệp của các doanh nghiệp ngành Nhựa và Bao bì niêm yết tại Việt Nam. Chương 3: Tác động của cơ cấu nguồn vốn đến giá trị doanh nghiệp của các doanh nghiệp ngành Nhựa và Bao bì niêm yết tại Việt Nam. Chương 4: Khuyến nghị với các nhà quản trị doanh nghiệp ngành Nhựa và bao bì niêm yết tại Việt Nam 19 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CẤU NGUỒN VỐN ĐẾN GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP 1.
TỔNG QUAN VỀ CƠ CẤU NGUỒN VỐN CỦA DOANH NGHIỆP. Nguồn vốn của doanh nghiệp. Để tiến hành hoạt động SXKD thì các DN phải bỏ ra các yếu tố đầu vào ban đầu như tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Số tiền ứng ra ban đầu để hình thành các yếu tố đầu vào này được gọi là vốn ban đầu của DN.
Dưới sự tác động của lao động vào đối tượng lao động thông qua tư liệu lao động, DN sẽ tạo ra hàng hoá, dịch vụ để cung ứng cho thị trường. DN tồn tại và phát triển khi số tiền thu được từ việc tiêu thụ sản phẩm phải đảm bảo bù đắp chi phí và có lãi. Nhờ đó, số tiền ứng ra ban đầu được bảo toàn và mở rộng với quy mô lớn hơn. Toàn bộ số tiền ứng ra ban đầu và được bổ sung trong quá trình hoạt động của DN được gọi là vốn.
Như vậy, vốn của DN là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản của DN được sử dụng cho hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động SXKD và đầu tư, DN có thể huy động và sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau như vốn chủ sở hữu, vốn vay, vốn chiếm dụng nhà cung cấp. Nguồn vốn của DN phản ánh nguồn gốc, xuất xứ của các khoản vốn mà DN huy động được và sử dụng cho các hoạt động của DN. Như vậy, nguồn vốn của DN phản ánh nguồn gốc lượng vốn mà DN huy động và sử dụng nhằm tạo ra sự tăng thêm giá trị tài sản cho DN.
Khái niệm hàm ý nguồn vốn chỉ là những nguồn tạo ra sự tăng thêm tổng tài sản của DN. Nguồn hình thành tài sản kinh doanh của DN đều là sự phối hợp của nhiều nguồn vốn khác nhau theo những tỷ lệ nhất định. Để tổ chức và lựa chọn phương thức huy động vốn một cách phù hợp và hiệu quả cần thực hiện phân loại nguồn vốn. Dựa vào tiêu thức nhất định có thể chia nguồn vốn của DN thành nhiều loại khác nhau.
* Dựa vào quan hệ sở hữu vốn, nguồn vốn của DN bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Nợ phải trả Tài sản + Nợ ngắn hạn + Nợ dài hạn Vốn chủ sở hữu Hình 1.1: Phân loại nguồn vốn theo quan hệ sở hữu 20 - Vốn chủ sở hữu phản ánh số vốn thuộc quyền sở hữu của chủ DN. Nguồn hình thành vốn chủ sở hữu từ số tiền góp vốn của các chủ sở hữu (góp vốn điều lệ), và phần vốn tự bổ sung từ lợi nhuận sau thuế hàng năm. Vốn chủ sở hữu của DN tại một thời điểm được xác định bằng công thức sau: Vốn chủ sở hữu = Giá trị tổng tài sản – Nợ phải trả.
+ Vốn góp của chủ sở hữu là phần vốn mà các chủ sở hữu đóng góp vào để hình thành vốn điều lệ của DN. Phần vốn góp này có thể bằng tiền mặt, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu công nghệ, bí quyết kỹ thuật… tùy theo thỏa thuận của các thành viên góp vốn. Quy mô của khoản vốn góp của các chủ sở hữu là cơ sở xác định vai trò quản lý, kiểm soát DN, phân phối lợi nhuận, trách nhiệm đối với các nghĩa vụ nợ của chủ sở hữu khoản vốn góp. Một trong những đặc điểm của vốn góp là gắn liền với việc xác lập quyền của chủ sở hữu DN trong việc quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của DN.
Vì vậy, những DN do ít chủ sở hữu nắm giữ quyền kiểm soát, hoặc chủ sở hữu hiện hành không muốn chia sẻ quyền quản lý, kiểm soát sẽ không chấp nhận việc huy động tăng vốn điều lệ bằng cách kết nạp thêm các thành viên góp vốn mới. Đối với các công ty cổ phần, công ty có thể thực hiện tăng phần vốn góp của chủ sở hữu thông qua hình thức phát hành cổ phần thường hoặc cổ phần ưu đãi. Phát hành cổ phiếu thường: Để đáp ứng nhu cầu tăng vốn, mở rộng kinh doanh, công ty cổ phần có thể lựa chọn hình thức huy động vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu thường mới. Việc phát hành thêm cổ phiếu thường mới để huy động thêm vốn cổ phần có thể thực hiện theo hai phương thức, đó là chào bán riêng lẻ hay chào bán rộng rãi ra công chúng.
Mặt tích cực chủ yếu khi công ty cổ phần phát hành cổ phiếu thường ra công chúng: (1) Phát hành cổ phiếu thường mới ra công chúng giúp công ty tăng được vốn đầu tư dài hạn, nhưng công ty không có nghĩa vụ bắt buộc phải trả lợi tức cố định như sử dụng vốn vay; (2) Việc phát hành thêm cổ phiếu thường mới sẽ giúp công ty tăng được vốn chủ sở hữu, từ đó làm giảm hệ số nợ, gia tăng mức độ bền vững về tài chính của công ty, qua đó củng cố niềm tin với người cho vay, làm gia tăng khả năng vay nợ và mức độ tín nhiệm của công ty. Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, việc phát hành rộng rãi cổ phiếu thường ra công chúng cũng gặp phải những điểm bất lợi chủ yếu sau: (i) việc phát hành thêm cổ 21 phiếu thường mới buộc các chủ sở hữu hiện tại phải phân chia quyền biểu quyết, quyền kiểm soát công ty, quyền phân phối thu nhập cao cho các cổ đông mới; (ii) Chi phí phát hành cổ phiếu thường mới nói chung cao hơn chi phí phát hành cổ phiếu ưu đãi hoặc trái phiếu; (iii) Tại một số quốc gia, lợi tức cổ phần không được tính vào thu nhập chịu thuế, trong khi lợi tức trái phiếu hay lợi tức tiền vay được tính trừ vào thu nhập chịu thuế của công ty. Điều này làm cho chi phí sử dụng vốn từ phát hành cổ phiếu thường cao hơn nhiều so với chi phí sử dụng vốn từ phát hành trái phiếu hoặc đi vay. Phát hành cổ phiếu ưu đãi: Để đáp ứng nhu cầu tăng vốn, mở rộng kinh doanh, công ty cổ phần có thể lựa chọn hình thức huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu ưu đãi.
Về bản chất, việc quy định công ty cổ phần được phát hành các loại cổ phiếu ưu đãi là nhằm phát huy tối đa lợi thế của loại hình DN này về tính đại chúng trong cơ cấu sở hữu vốn, đồng thời giúp công ty cổ phần tận dụng hết những ưu thế của việc huy động các nguồn vốn từ các nhà đầu tư thuộc diện “muốn an toàn” khi bỏ vốn vào đầu tư, kinh doanh để hưởng cổ tức cao hơn gửi tiền vào ngân hàng - nơi có lãi suất cố định, thấp. Việc sử dụng cổ phiếu ưu đãi để đáp ứng nhu cầu tăng vốn của công ty có những mặt tích cực chủ yếu sau: (1) Công ty không bắt buộc phải trả lợi tức cố định đúng hạn; (2) Công ty có khả năng giúp cho các cổ đông thường thu dược lợi tức cổ phần cao hơn khi công ty có triển vọng thu được lợi nhuận cao trong kinh doanh; (3) Giúp công ty tránh được việc phải chia sẻ quyền quản lý và kiểm soát cho các cổ đông mới; (4) Công ty không phải cầm cố, thế chấp tài sản, cũng như lập quỹ thanh toán vốn gốc. Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, việc phát hành cổ phiếu ưu đãi cũng gặp phải những điểm bất lợi chủ yếu sau: (i) So với trái phiếu, lợi tức của cổ phiếu ưu đãi thường cao hơn; (ii) Lợi tức của cổ phiếu ưu đãi không được tính trừ vào thu nhập chịu thuế của công ty. Điều này làm chi phí sử dụng vốn từ cổ phiếu ưu đãi cao hơn so với chi phí sử dụng trái phiếu.
+ Vốn tự bổ sung phản ánh bộ phận lợi nhuận sau thuế từ kết quả kinh doanh hàng năm do các chủ sở hữu DN giữ lại tái đầu tư nhằm bổ sung tăng vốn kinh doanh dài hạn. Nguồn lợi nhuận giữ lại tái đầu tư nhiều hay ít phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty và chính sách cổ tức của công ty, chiến lược kinh doanh và cơ hội đầu tư của công ty. 22 DN sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu có nhiều ưu điểm so với các khoản nợ vay như: Tránh được áp lực phải thanh toán gốc và lãi đúng hạn; tăng tự chủ tài chính; chủ động, linh hoạt trong việc sử dụng của DN. Bên cạnh đó, việc sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu cũng có những điểm bất lợi nhất định như sự phức tạp liên quan đến quyền quản lý và điều hành doanh nghiệp.
- Nợ phải trả là biểu hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà DN có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác trong khoảng thời gian nhất định. + Dựa vào tính chất kỳ hạn nợ, nợ phải trả bao gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn. Nợ ngắn hạn bao gồm các khoản nợ mà DN có nghĩa vụ thanh toán đúng hạn trong thời gian một năm như các khoản vay ngắn hạn, các khoản chiếm dụng vốn (như phải trả nhà cung cấp, phải trả người lao động, người mua trả tiền trước, thuế và các khoản phải nộp khác, các khoản tạm ứng trước của khách hàng…). Nợ dài hạn bao gồm các khoản nợ mà DN có nghĩa vụ thanh toán đúng hạn trong thời gian dài (thường trên 1 năm) như các khoản vay dài hạn ngân hàng và tổ chức tín dụng; phát hành trái phiếu; thuê tài chính… Đây là nguồn vốn rất quan trọng của DN thường được sử dụng cho các quyết định tài trợ, đầu tư dài hạn.
Để huy động nợ dài hạn DN có thể thực hiện qua hai kênh là vay vốn dài hạn ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu. + Dựa vào tính chất các khoản nợ, nợ phải trả bao gồm các khoản nợ vay và nợ chiếm dụng.