CHƯƠNG 1. Cấu trúc tài chính của doanh nghiệp và các chỉ tiêu đánh giá 1. Khái niệm cấu trúc tài chính của doanh nghiệp Cấu trúc tài chính là thuật ngữ tài chính nhằm mô tả nguồn gốc và phương pháp hình thành nên nguồn vốn để doanh nghiệp có thể sử dụng mua sắm tài sản, phương tiện vật chất và hoạt động kinh doanh, cụ thể là mối quan hệ giữa nợ và vốn cổ phần của doanh nghiệp. Cấu trúc tài chính xuất phát từ cấu trúc của Bảng cân đối kế toán.
Trong Bảng cân đối kế toán, cấu trúc tài chính thể hiện trong phần nguồn vốn bên phải bảng cân đối. Cấu trúc tài chính chỉ ra được phần nào của tổng tài sản doanh nghiệp hình thành từ vốn góp của chủ sở hữu, từ lợi nhuận giữ lại và từ các nguồn vay nợ bên ngoài (các khoản nợ khác nhau). Các chi tiêu phản ánh cấu trúc tài chính của doanh nghiệp Có 3 chi tiêu phổ biến nhất phản ánh cấu trúc tài chính của doanh nghiệp. Đó là: tỷ số nợ trên tài sản , tỷ số đòn bẩy tài chính và chỉ số nợ trên vốn cổ phần.
Chúng ta dễ dàng tính toán 3 chỉ tiêu này dựa trên số liệu từ bảng cân đối kế toán. a) Tỷ số nợ = tổng nợ phải trả / tổng tài sản. Trong đó: - Tổng nợ bao gồm nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, các khoản phải trả khác như khoản thuế trả chậm, cố phiếu ưu đãi có thể hoàn vốn. - Tổng tài sản là toàn bộ tài sản của công ty tại thời điểm báo cáo Chỉ số này phản ánh mức độ tài sản của doanh nghiệp được tài trợ bởi các khoản vay bên ngoài.
Tỷ suất nợ càng cao thể hiện mức độ phụ thuộc của 123doc 5 doanh nghiệp vào chủ nợ càng lớn, tính tự chủ của doanh nghiệp càng thấp và khả năng tiếp nhận các khoản vay nợ càng khó một khi doanh nghiệp không thanh toán kịp thời các khoản vay nợ và hiệu quả hoạt động kém. b) Tỷ số đòn bẩy tài chính = tổng tài sản / vốn chủ sở hữu Chỉ số đòn bẩy tài chính đề cập tới việc doanh nghiệp sử dụng nguồn tài trợ từ các khoản vay thay cho vốn chủ sở hữu. Đòn bẩy tài chính là công cụ để xác định xác suất doanh nghiệp mất khả năng thanh toán các hợp đồng nợ. Doanh nghiệp càng nợ nhiều thì càng có nguy cơ cao mất khả năng hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
Nói cách khác, nợ quá nhiều sẽ dẫn tới xác suất phá sản và kiệt quệ tài chính cao. c) Chỉ số tổng nợ trên vốn CSH = tổng nợ / vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này thể hiện mức độ đảm bảo nợ bởi vốn chủ sở hữu. Chỉ số này nhỏ hơn 1 thì có nghĩa là 1 đồng nợ luôn được đảm bảo bởi hơ n 1 đồng vốn chủ sở hữu và ngược lại. Tỷ số nợ trong cấu trúc tài chính phục vụ cho việc hoạch định các quyết định dài hạn vì thế nợ ở đây được hiểu là nợ trung và dài hạn.
Thực tế có rất ít công ty tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần vì họ thấy được nợ là “tấm chắn thuế” hiệu quả bởi lãi vay mà công ty chi trả khi sử dụng nợ là một khoản chi phí được khấu trừ vào thu nhập chịu thuế, trong khi cổ tức và lợi nhuận giữ lại thì không. Hiệu quả tài chính của doanh nghiệp Khái niệm hiệu quả tài chính của doanh mang một ý nghĩa rộng lớn trên nhiều lĩnh vực. Khái niệm hiệu quả tài chính được đề cập đầu tiên trong nghiên cứu của Murhphy về lý thuyết tổ chức và quản trị chiến lượ c. Việc đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp bằng chỉ tiêu nào còn phụ thuộc vào sự phát triển của Thị trường chứng khoán và thị trường vốn.
123doc 6 Khi thị trường chứng khoán phát triển hoàn thiện thì giá mỗi cổ phần trên thu nhập mỗi cổ phần (P/E), thu nhập trên mỗ i cổ phần (EPS), tỷ số giá thị trường của vốn chủ sở hữu trên giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu (MBVR), và chỉ số Tobin’s Q luôn được ưu tiên. Và ngược lại, khi thị trường vốn chưa hoàn thiện, lợi nhuận trên vốn cổ phần (ROE) hay lợi nhuận trên đầu tư (ROI) thích hợp cho việc đo lường hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Các chỉ số phản ánh hiệu quả tài chính ROE, ROI dễ dàng tính được thông qua các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán. Do thị trường chứng khoán Tp.HCM đang trong giai đoạn hoàn thiện nên bài viết chỉ sử dụng các chỉ tiêu ROE để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
ROE = lợi nhuận sau thuế và lãi vay x 100% vốn chủ sở hữu bình quân Chỉ số này phản ánh cho biết số lợi nhuận được thu về cho các chủ sở hữu doanh nghiệp sau khi họ đầu tư một đồng vốn vào sản xuất kinh doanh. Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là doanh nghiệp đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô. ROE có mối quan hệ với ROA và cấu trúc vốn thông qua phân tích Du Pont: ROE = ROA x Tổng tài sản bình quân Vốn chủ sở hữu bình quân Hay ROE = ROA x (1+ DE) Như vậy, thông qua phân tích Du Pont chúng ta thấy được mối quan hệ giữa ROE, ROA và cấu trúc vốn. Doanh nghiệp có thể nâng cao tỷ suất ROE 123doc 7 thông qua việc gia tăng ROA hoặc gia tăng vay nợ trong cấu trúc vốn hoặc kết hợp cả hai.
Các lý thuyết về cấu trúc tài chính và hiệu quả doanh nghiệp Phần này trình bày tóm tắt các lý thuyết về cấu trúc tài chính và những của cấu trúc tài chính đến hiệu quả doanh nghiệp: 1. Thuyết cơ cấu vốn tối ưu Lý thuyết này cho rằng có một cơ cấu vốn tối ưu, với cơ cấu này có thể gia tăng giá trị doanh nghiệp bằng cách sử dụng tỷ số đòn bẩy tài chính phù hợp. Trước tiên, công ty có thể hạ thấp chi phí sử dụng vốn, gia tăng giá trị doanh nghiệp thông qua việc gia tăng sử dụng nợ bởi vì chi phí sử dụng nợ thấp hơn do có khoản tiết kiệm thuế. Tuy nhiên khi tỷ số nợ gia tăng thì rủi ro cũng gia tăng, do đó nhà đầu tư sẽ gia tăng lợi nhuận đòi hỏi, đến một lúc nào đó thì lợi ích của việc tiết kiệm thuế không bù đắp cho việc gia tăng của chi phí sử dụng vốn bình quân khiến cho lợi ích của việc sử dụng nợ không còn nữa.
Khi đó doanh nghiệp đạt được cấu trúc vốn tối ưu. Khi tiếp tục gia tăng nợ trong cấu trúc vốn thi chi phí sử dụng vốn bắt đầu tăng dần. Bởi vì lúc này sự gia tăng nợ kéo theo rủi ro về khả năng thanh tóan nợ cho chủ nợ, đồng thời cũng làm tăng rủi ro đối với chủ sở hữu, từ đó làm cho chi phí sử dụng vốn c ủa từng nguồn tài trợ tăng nhằm bù đắp rủi ro. Chính điều này làm cho các doanh nghiệp không bao giờ chọn cấu trúc vốn tài trợ 100% nợ.
Cơ cấu vốn tối ưu là cơ cấu vốn cân đối được giữa rủi ro và lợi nhuận do đó tối đa được giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, không có một cấu trúc vốn 123doc 8 tối ưu vĩnh viễn, mà chỉ có thể tối ưu trong một giai đọan nào đó tuy theo từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Và không có mô hình cơ cấu vốn tối ưu cho mọi doanh nghiệp. Lý thuyết MM Lý thuyết M&M về cơ cấu vốn của công ty được Modigliani và Miller đưa ra từ năm 1958.
Lý thuy ết M&M về cơ cấu vốn được xem là lý thuy ết hiện đại lý giải mối quan hệ giữa giá trị công ty, chi phí sử dụng vốn và mức độ sử dụng nợ của công ty. Modigliani và Miller đưa ra hai mệnh đề về giá trị công ty, chi phí ửs dụng vốn và xem xét trong hai trường hợp có thu ế và không có thuế. Trong trường hợp không có thuế: Trong trường hợp không có thuế, lý thuyết M&M sử dụng các giả định sau nhằm đơn giản hóa vấn đề nghiên cứu: - Không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân - Không có chi phí giao dịch - Không có chi phí phá sản và chi phí khó khăn tài chính - Cá nhân và công ty đều có thể vay tiền ở mức lãi suất như nhau - Thị trường vốn là thị trường hoàn hảo. Mệnh đề số I của M&M về giá trị công ty: Giá trị công ty có vay nợ và giá trị công ty không có vay nợ là như nhau.
Do đó, giá trị công ty không thay đổi khi cơ cấu vốn của công ty thay đổi và việc thay đổi cơ cấu vốn không mang lại lợi ích gì cho cổ đông. Vì vậy, không có cơ cấu vốn nào là tối ưu và công ty cũng không thể nào tăng giá trị bằng cách thay đổi cơ cấu vốn. Mệnh đề số II của M&M về chi phí sử dụng vốn: 123doc 9 Mệnh đề số II của M&M kết luận lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ. Về mặt toán học, mệnh đề M&M số II có thể được biểu diễn bởi công thức: trong đó: r E = lợi nhuận yêu cầu hay lợi nhuận kỳ vọng trên vốn cổ phần r D = lãi suất vay hay chi phí sử dụng nợ r U = chi phí sử dụng vốn nếu công ty sử dụng 100% vốn cổ phần D = giá trị của nợ hay trái phiếu của công ty phát hành E = giá trị của vốn cổ phần của công ty.
Ngoài ra mệnh đề cũng kết luận chi phí sử dụng vốn trung bình không đổi bất chấp cơ cấu vốn thay đổi như thế nào. Như vậy, chi phí sử dụng vốn cổ phần tăng lên khi công ty gia tăng tỷ số nợ. Điều này cho thấy đòn bẩy tài chính làm cho vốn cổ phần trở nên rủi ro hơn. Trong trường hợp có thuế: Nếu trong trường hợp có thuế, việc công ty có vay nợ hay không thì không đều không làm thay đổi giá trị hiện tại của công ty.
Tại sao trên thị trường luôn có nhiều công ty gia tăng tỷ lệ vay nợ để chấp nhập mức vốn cổ phần rủi ro hơn mà giá trị doanh nghiệp không cải thiện?