Chương 1: Cơ sở lý luận việc cắt giảm thuế quan trong CPTPP tới xuất khẩu gỗ và sản phâm go của Việt Nam Chương 2: Tác động của cắt giảm thuế quan tới xuất khâu gỗ và sản pham gỗ của Việt Nam trong CPTPP. Chương 3: Thách thức và cơ hội của việc cắt giảm thuế quan trong CPTPP tới xuât khâu g6 và sản phâm go của Việt Nam CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE TÁC ĐỘNG CAT GIAM THUÉ QUAN TRONG CPTPP TỚI XUẤT KHẨU GO VÀ SAN PHAM GO CUA VIỆT NAM 1.1 Cơ sở lý luận về thuế quan va xuất khẩu 1.1 Khái niệm thué quan. Thuế quan là một khái niệm phổ biến trong lĩnh vực thương mại quốc tế. Thuế quan là thuế đánh vào hàng hóa khi di chuyển qua cửa khâu của một quốc gia.
Thuế quan hóa là việc chuyền các biện pháp phi thuế quan thành tương đương thuế quan ràng buộc (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia) Thuế quan còn là một công cụ quan trọng nhất và mang tính cô điển nhất đề thực hiện chính sách thương mại và bảo hộ thị trường nội địa. Nhưng hiện nay hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các hiệp định thương mại tự do với các cam kết xóa bỏ thuế quan thì thuế quan đang ngày càng thấp (Nguyễn Xuân Thiên, 201 1). Phân theo mục đích thuế quan có hai loại chính là thuế quan tài chính nham đem lai nguồn thu cho ngân sách và thuế quan bảo hộ nhằm bảo hộ cho nền sản xuất và hàng hóa nội địa. Phân theo đối tượng đánh thuế thì thuế quan chia làm 3 loại: Thuế xuất khẩu đánh vào hàng hóa hoặc nguyên vật liệu ở thời điểm chúng rời lãnh thé hải quan quốc gia, Thuế nhập khẩu là thuế đánh vào sản phâm nhập khẩu tại biên giới và thuế quá cảnh là thuế đánh vào hàng hóa khi đi qua một nước trung gian.2 Khai niệm về xuất khẩu.
Hiện nay, có nhiều khái niệm nhưng xuất khẩu gồm 2 đặc điểm chính sau: Thứ nhất, xuất khẩu là đưa các loại hàng hóa, dich vụ vượt qua lãnh thô một quôc gia, liên quan đên các thương nhân trong nước và ngoài nước. Thứ hai, xuât khâu là hoạt động găn liên với các đông tiên của môi quôc gia làm phương tiện trong thanh toán quốc tế. Như vậy có thể thấy xuất khẩu là một hoạt động cơ bản của họat động ngoại thương, giúp trao đổi hàng hóa và dich vụ giữa các quốc gia, tận dụng lợi thế giữa quốc gia nhằm thu lợi nhuận từ hoạt động này. Là một hình thức gia nhập thị trường của hoạt động kinh doanh quốc tế, xuất khâu có hai lợi thế rõ rảng nhất.
Thứ nhất, xuất khâu tránh được những chi phí đáng ké khi không phải xây dựng cơ sở tạinước ngoài, nguồn đầu tư không quá lớn khiến nhiều doanh nghiệp nhỏ cũng có thể tham gia vào hoạt động này. Thứ hai, xuất khâu giúp doanh nghiệp góp phần sớm đạt được đường cong kinh nghiệm và lợi thế kinh tế vùng bằng cách sản xuất tập trung và xuất khẩu chúng tới các quốc gia khác. Vài trò của xuất khẩu Xuất khẩu đã xuất hiện từ rất lâu trước đây thông qua hình thức sơ khai chỉ là hoạt động trao đổi hang hóa giữa các quốc gia hay vùng lãnh thổ. Theo thời gian cùng sự phát triển của nền kinh té, cũng như khoa học, kỹ thuật, hoạt động xuất khẩu đã và đang ngày càng mở rộng mạnh mẽ với nhiều hình thức đa dạng khác nhau.
Hoạt động này diễn ra trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề của nền kinh tế cả với hàng tiêu đùng cũng như với tư liệu sản xuất. Tuy nhiên, chung quy lại tất cả những hoạt động này đều nhằm mục đích đem lại lợi ích doanh nghiệp và quốc gia xuất nhập khẩu. Vai trò của xuất khâu bao gồm: Dem lại doanh thu cho doanh nghiệp. Việc bán hang cho khách hàng nước ngoài chính là cách mở rộng thị trường vượt ra khỏi biên giới quốc gia, góp phần nâng tam của doanh nghiệp nội địa.
Đây cũng là một trong những lợi ích chính yêu mà buôn bán quốc tế đem lại. Quảng bá thương hiệu doanh nghiệp, thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế. Các công ty lớn mạnh xuất khẩu nhiều mặt hàng có giá trị ra thị trường quốc tế ngoài việc 10 chiếm lĩnh thị trường, còn giúp khăng định tên tuổi công ty. Quốc gia có nhiều thương hiệu mạnh thì cũng được khang định thương hiệu của chính quốc gia đó.
Có thé thay rõ điều này qua đóng góp của những tên tuổi lớn cho thương hiệu các quốc gia như: Microsoft, Apple (Mỹ), Sony, Toyota (Nhật Bản), Samsung, Hyundai (Hàn Quốc), Lenovo, Alibaba (Trung Quốc). Dem lại nguồn ngoại tệ cho đất nước. Lợi ích này mang tính vĩ mô, và cũng là yếu tố then chốt mà các quốc gia khuyến khích hoạt động xuất khâu dé đảm bảo cán cân thanh toán và tăng tích lũy và dự trữ ngoại tệ. Góp phan thúc đây nền kinh tế toàn cầu thông qua đáp ứng lợi ích của các doanh nghiệp và các quốc gia.
Xuất khẩu thúc đây sản xuất trong nước thông qua khuyến khích việc tận dụng lợi thé tuyệt đối cũng như lợi thế so sánh của các nước.4 Các yếu tố tác động đến xuất khẩu Là hoạt động kinh doanh giữa hai quốc gia nên các bên gặp rất nhiều khó khăn và rủi ro, các nhân tô ảnh hưởng đến hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế nói chung và hoạt động xuất khâu nói riêng cho phép các nhà kinh doanh thấy được những gì họ sẽ phải đối mặt và đứng trước tinh thế đó thì họ phải xử lý như thé nào, có thé nghiên cứu ảnh hưởng của các nhóm yêu tô chủ yêu sau: © Cac yêu to kinh té Các yếu tố này anh hưởng rat lớn đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu của các nước, hơn nữa các yếu tố này rất rộng nên các doanh nghiệp rất dễ mắc phải khiến cho hoạt động xuất khâu trở nên khó khăn và rủi ro hơn. Vì vậy cần phải lựa chọn và phân tích các yếu té thiết thực nhất dé đưa ra các biện pháp tác động cu thé. Ta có thé thấy qua một vài yếu tô chính sau đây. Thứ nhất, tỷ giá hồi đoái, lạm phát, chính sách thương mại.
11 Trong đó yếu tố được coilà ảnh hưởng chính và có tác động nhiều nhất đó là tỷ giá hồi đoái. Ty giá hồi đoái hay là giá của một đơn vị ngoại tệ tính bằng đồng nội tệ, khi giá trị đồng nội tệ tăng giá trong khi giả sử các yếu tố khác không đổi thì hàng hóa trong nước trở nên đắt hơn hàng hóa nước ngoài, việc xuất khâu sẽ giảm xuống, ngược lại đồng nội tệ giảm giá sẽ có xuất khâu tăng. Tuy nhiên đây là yêu tô vĩ mô, trong khi co cau xuất khâu của chúng ta chủ yếu là nông sản, thủy sản, các mặt hàng này chủ yếu dựa vào nhu cầu thị trường, kết quả của hoạt động sảnxuất và khả năng chiếm lĩnh thị trường quốc tế hơn là bị ảnh hưởng bởi tỷ giá do vậy trong ngắn hạn tỷ giá thay đổi không làm ảnh hưởng nhiều đến hoạt động xuấtkhâu Thứ hai, thuế quan, hạn ngạch và trợ cấp xuất khẩu. Trong hoạt động xuất khẩu thuế quan là loại thuế đánh vào từng đơn vị hàng xuất khâu.
Việc đánh thuế xuất khâu được chính phủ các nước ban hành nhằm thu một nguồn ngân sách, quản lý hoạt động xuất khẩu theo chiều hướng có lợi cho nền kinh tế trong nước. Tuy nhiên, thuế quan cũng gây ra một khoản chi phí xã hội do sản xuất trong nước tăng lên không có hiệu quả và mức tiêu dùng trong nước lại giảm xuống. Nhìn chung công cụ này thường chỉ áp dụng đối với một số mặt hàng nhằm hạn chê sô lượng xuât khâu và bô sung cho nguôn thu ngân sách của các quôc gia. Hạn ngạch được coi là một công cụ chủ yếu cho hàng rào phi thuế quan dé kiểm soát cả hoạt động xuất và nhập khâu, nó được hiểu như quy định của Nhà nước về số lượng cao nhất của một mặt hàng hay của một nhóm hàng được phép xuất khẩu trong một thời gian nhất định thông qua việc cấp giấy phép.
Ở Việt Nam, cũng như các nước chủ yếu sử dụng hạn ngạch nhập khẩu, hạn ngạch xuất khẩu ít được quy định vì vậy nhân tố này không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động xuất nông sản thủy sản của nước ta Trợ cấp xuất khâu là một chính sách nhằm thúc đây xuất khâu trong nước. Trong một số trường hợp chính phủ phải thực hiện chính sách trợ cấp xuất khâu dé tăng mức độ xuât khâu hàng hoá của nước mình, tạo điêu kiện cho sản phâm có sức cạnh tranh 12 vé giá trên thị trường thê giới. Tro cap xuât khâu sẽ làm tăng giá nội dia của hàng xuât khâu, giảm tiêu dùng trong nước nhưng tăng sản lượng và mức xuât khâu sang các thị trường nước ngoài. e Yếu tô hàng rào kỹ thuật Hàng rào kỹ thuật dé cập tới các tiêu chuẩn của hàng hoá mà mỗi quốc gia quy định đối với các hàng hóa nhập khẩu vào các quốc gia đó.
Các tiêu chuẩn này có thé bao gồm các thông số, đặc điểm cho mỗi loại hàng hoá do các cơ quan chính quyền hoặc các tổ chức tư nhân đặt ra. Các tiêu chuẩn kỹ thuật đòi hỏi các sản phẩm xuất khẩu phải đạt được những yêu cầu nhất định trước khi được đưa ra thị trường trong nước. Các thông số kỹ thuật như các rào cản thương mại, gây khó khăn với các doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt khi nó được quy định khác nhau giữa các nước, những nước phát triển như Mỹ và EU thì những tiêu chuẩn này cực kì khắt khe, khiến hàng hóa xuất khâu sang thị trường này phải đạt tiêu chuẩn cao hơn các thị trường khác. Mặc dù gồm nhiều tiêu chuẩn các quy định khác nhau nhưng hàng rào kỹ thuật trong thương mại có thé được chia làm 3 nhóm chính sau đây: Thứ nhất là các quy định về dịch bệnh và vệ sinh an toàn.
Các quy định này được các nước đưa ra dé bảo vệ sức khoẻ cho người, vật nuôi và cây trồng, các sản pham đủ tiêu chuẩn mới được phép nhập khẩu, những mặt hàng không đủ tiêu chuẩn mà nhập khẩu khi bị phát hiện sẽ bi tay chay và ngừng sử dụng. Thứ hai là các biện pháp đối với người tiêu dùng. Các biện pháp này quy định về chất lượng và an toàn thực phẩm bao gồm nhãn mác, đóng gói, dư lượng thuốc trừ sâu, hàm lượng dinh dưỡng và tạp chất. Các quy định này có thê cho phép một quốc gia sử dụng các rào cản nhằm đảm bảo hàng hoá an toàn, đảm bảo sức khỏe cho nhân dân của quôc gia đó.