PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Vào năm 1990, ngay khi kết thúc Chiến tranh lạnh, khái niệm sức mạnh mềm đã xuất hiện lần đầu tiên trên thế giới bởi Joseph Nye - nhà nghiên cứu địa chính trị người Mỹ. Theo ông, bên cạnh sức mạnh quân sự, còn tồn tại một loại sức mạnh khác, nó được tạo nên từ tài sản vô hình: đó là hình ảnh và uy tín của một quốc gia, là sức hấp dẫn cả về văn hóa lẫn khoa học - kinh tế đối với các thể chế chính trị khác (2004, 2009). Ngày nay, giữa một kỷ nguyên toàn cầu hóa, việc quần chúng tỏ lòng khâm phục những giá trị văn hóa, đạo đức hay chất lượng hàng hóa của một quốc gia nào đó là một điều rất phổ biến.
Có thể nói, trường hợp Nhật Bản là minh họa tuyệt vời của sức mạnh mềm, và cũng là một ví dụ tuyệt vời cho các nghiên cứu của Joseph Nye. Từ một đất nước bị tàn phá nặng nề bởi Thế chiến thứ II, tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn. Tuy nhiên nhờ có chiến lược và chính sách phù hợp, Nhật Bản đã tạo nên những thành tựu kinh tế ấn tượng. Chỉ trong vòng 20 năm, Nhật Bản đã vươn lên thành một nền kinh tế lớn đứng thứ hai thế giới.
“Cùng với Hoa Kỳ và các nước Tây Âu, Nhật Bản đã trở thành một trong ba trung tâm kinh tế tài chính của thế giới trong những năm 1970” (Patrick, 1976, tr. Và ngày nay trong thế kỷ hai mươi Nhật Bản đang là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới chỉ đứng sau Hoa Kỳ và Trung Quốc (BBC News, 2019). Điều này đã tạo nên “sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản”. Ngoài sức mạnh kinh tế, Nhật Bản còn nổi tiếng với nền văn hóa giàu bản sắc và đa dạng.
Ảnh hưởng văn hóa của Nhật Bản là rất lớn, nó bao gồm giá trị nghệ thuật truyền thống và nền văn hóa đại chúng. Trong khi nền văn hóa hiện đại của Mỹ chủ yếu gây ảnh hưởng đến toàn cầu thông qua sức phổ biến và tính hiện đại, nền văn hóa Pháp chủ yếu ảnh hưởng đến thế giới thông qua nghệ thuật cổ điển, thì Nhật Bản đã tạo ảnh hưởng thông qua cả hai, và đây là một điều hiếm có (Truyện tranh và trò chơi video của Nhật Bản được hàng triệu trẻ em phương Tây ham mê, môn đô vật Sumo cũng như các biểu tượng Hello Kitty xuất hiện trên 10 toàn thế giới. Nghệ thuật làm vườn, nghệ thuật xếp giấy Origami, thể thơ Haiku đã thâm nhập vào văn hóa nhân loại, món Sushi đã trở nên phổ biến như Hamburger,. Nhật Bản thực sự đã trở thành một siêu cường văn hóa.
Tuy nhiên, việc phát triển sức mạnh mềm thông qua các hình ảnh và văn hóa Nhật Bản là chưa đủ để đạt hiệu quả cao nếu không đi kèm với giáo dục. Quả thật, bên cạnh sự phát triển kinh tế, và văn hóa, Nhật Bản hiện đang gia tăng ảnh hưởng chính trị trên thế giới bằng việc sử dụng giáo dục trong chính sách đối ngoại của mình. Theo như Joseph Nye đã đề cập: các cường quốc bắt đầu dành nhiều ngân sách cho hệ thống giáo dục các trường Đại học của họ (2004, tr. Số lượng các quốc gia xem giáo dục là phương tiện tốt nhất để thúc đẩy lợi ích quốc gia trên trường thế giới ngày càng gia tăng.
Do đó, các quốc gia như Pháp, Anh, Mỹ, và cả một số quốc gia châu Á phát triển như Singapore, Hàn Quốc hiện đang thực hiện nhiều chương trình giáo dục dành cho những người trẻ có năng lực và có triển vọng đến từ khắp nơi trên thế giới. Nhiều sinh viên du học tài giỏi sau khi trở về nước đã trở thành những nhà lãnh đạo tài năng và chính họ đã trở thành những hình mẫu ngưỡng mộ lôi cuốn nhiều người đến với nền văn hóa mình từng lãnh nhận. Chẳng hạn cựu tổng thống Mohamed Morsi của Ai Cập, từng học tại Đại học Nam California; hay Mikheil Saakashvili, người học thạc sĩ tại Đại học Columbia; Thủ tướng Benazir Bhutto của Pakistan và Công nương Nhật Bản Masako học tại Đại học Harvard (2004, tr. Giáo dục như một hiện tượng toàn cầu thu hút mọi người, và tạo ra sự quan tâm đến ngôn ngữ và văn hóa của những nước khác.
Nó có thể tạo một hình ảnh tích cực, tăng ảnh hưởng và thiện cảm ở nước ngoài. Hệ thống giáo dục được xem như chìa khóa giúp kinh tế tăng trưởng và ổn định chính trị. Việc đầu tư cho giáo dục rất có ý nghĩa đối với mọi quốc gia. Một hệ thống giáo dục tốt sẽ giúp tạo ra những lao động có chuyên môn cao góp phần đưa đất nước phát triển.
Cũng phải nhấn mạnh rằng hệ thống giáo dục luôn là động cơ chính cho thịnh vượng của một quốc gia. Rốt cuộc, người ta biết rằng, bất kỳ nhà nước nào cũng có thể cho thấy những thành tựu đáng kể về mức độ thịnh vượng nhờ hệ thống giáo dục. Singapore, 11 Indonesia, Malaysia và các nước Đông Á khác có thể là một ví dụ nổi bật về điều này (Nye, 2005b, tr. Đồng thời, hệ thống giáo dục cũng được sử dụng như một công cụ của quyền lực mềm trong lĩnh vực chính trị và địa chính trị.
Vào những năm 70, khi nhận thấy người dân các nước châu Á nhờ hiểu biết sâu sắc văn hóa Nhật mà có thiện cảm với đất nước mình, chính phủ Nhật Bản đã lập nhiều Quỹ Giao lưu Quốc tế Nhật Bản (The Japan Foundation) tại nhiều nước, đặc biệt là khu vực châu Á. Hiện tại, Nhật Bản là nước dẫn đầu lượng sinh viên quốc tế theo học ở châu Á. Cụ thể vào năm 2000, đã có tới 118.000 du học sinh, trong số đó, hơn 90% đến từ châu Á (Watanabe & McConnell, 2008). Riêng các quốc gia Đông Nam Á, số du học sinh theo học tại Nhật Bản đã lên tới 26.993 người vào năm 2007 (Lam, 2013, tr.
Có thể thấy, Nhật Bản đã dành nhiều nguồn lực nhằm thu hút sinh viên nước ngoài, đặc biệt là các du học sinh đến từ các đối tác thương mại lớn của họ ở Đông Nam Á. Do đó, đánh giá được sức mạnh mềm của Nhật Bản thông qua giáo dục, cụ thể các qua chương trình trao đổi và HTGD tại Việt Nam là điều cần thiết nhằm giúp ta hiểu được về quyền lực mềm của đất nước này. Với các lý do nêu trên, đề tài mà người viết lựa chọn có tên là: “Sức mạnh mềm Nhật Bản thông qua các chương trình hợp tác giáo dục tại Việt Nam”. Với đề tài này, luận văn đặt ra giả thuyết nghiên cứu sau: Việc sử dụng công cụ giáo dục đã giúp Nhật Bản đạt được nhiều thành tựu trong việc gia tăng sức mạnh mềm của mình, cụ thể trong việc nâng cao sức mạnh mềm của Nhật Bản tại Việt Nam.
Để tìm hiểu về giả thuyết này, người viết đặt ra câu hỏi nghiên cứu sau: Các chương trình HTGD có phải là công cụ hữu hiệu để nâng cao sức mạnh mềm của Nhật Bản tại Việt Nam? 12 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu Hiện nay các công trình nghiên cứu về quyền lực mềm và vai trò của HTGD trên quyền lực ấy thì các nhà nghiên cứu đã viết nhiều, chẳng những là những nghiên cứu giữa các siêu cường như Hoa Kỳ và Trung Quốc, mà còn giữa các cường quốc hạng trung như Hàn Quốc hay Canada. Ở châu Á, từ năm 2008, Trung Quốc đã nổi lên như một cường quốc mạnh cả về quyền lực cứng (vượt Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới) lẫn quyền lực mềm (như khái niệm tăng trưởng hòa bình), điều này đã khiến nhiều công trình nghiên cứu tập trung đánh giá sức mạnh mềm của Trung Quốc. Tuy nhiên không hiểu vì sao quyền lực mềm của Nhật Bản, đặc biệt, trong lĩnh vực HTGD thì vẫn chưa có ai nghiên cứu cho sâu sắc và đầy đủ.
Vì thế luận văn sau đây là một nỗ lực nhằm tìm hiểu vai trò sức mạnh mềm thông qua HTGD của Nhật Bản trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Trong quá trình tìm hiểu các tài liệu liên quan, người viết nhận thấy có thể chia ra thành các mảng đề tài sau: (1) Các nghiên cứu về sức mạnh mềm gồm định nghĩa, hình thức, cách thức hoạt động. Đây là mảng đề tài được nhiều học giả lẫn chính giới quan tâm với các ý kiến bổ sung lẫn phản biện đối với khái niệm gốc mà Joseph Nye đã đưa ra. (2) Các nghiên cứu sức mạnh mềm thông qua giáo dục là mảng đề tài chính của luận văn, nhưng chỉ mới được các nhà nghiên cứu khai thác ở các nước lớn như Hoa Kỳ, và đặc biệt là Trung Quốc.
(3) Các nghiên cứu về sức mạnh mềm của Nhật Bản qua chính sách đối ngoại, văn hóa, giá trị chính trị,. Đây là mảng đề tài hấp dẫn và phong phú, vì Nhật Bản là đất nước có bề dày lịch sử lâu đời cùng nền văn hóa rực rỡ mang đậm bản sắc dân tộc. (4) Các nghiên cứu về HTGD. Đây là mảng đề tài cần thiết cho luận văn để người viết biết được các hình thức của HTGD và lợi ích của nó.
(5) Các nghiên cứu về quan hệ Nhật Bản – Việt Nam. Đây là mảng đề tài quan trọng để giúp hiểu rõ được những mối quan hệ đối tác chiến lược giữa hai 13 quốc gia, từ đó có thể lấy Việt Nam làm ví dụ điển hình trong việc sử dụng HTGD làm gia tăng sức mạnh mềm của Nhật Bản đối với các nước khác trên thế giới. (6) Các nghiên cứu về hoạt động HTGD của Nhật Bản tại Việt Nam. Đây là mảng đề tài thiết yếu để thấy rõ được ý nghĩa của HTGD tạo nên sức mạnh mềm của Nhật Bản.
Đầu tiên, về các nghiên cứu đề cập trực tiếp tới “sức mạnh mềm”. Về tổng thể, đa phần các nghiên cứu thừa nhận khái niệm sức mạnh mềm của Joseph Nye là một khái niệm phổ biến và hữu dụng trong quan hệ quốc tế. Từ đây, người viết sử dụng khái niệm sức mạnh mềm của Joseph Nye làm nền tảng, đồng thời kết hợp bằng những so sánh và đối chiếu với quan điểm, cách nhìn của Nhật trong nghiên cứu, phân tích về trường hợp sức mạnh mềm của quốc gia này, cách riêng là về những hoạt động trong lĩnh vực HTGD. Với khái niệm sức mạnh mềm, đặc biệt phải kể đến “ông tổ” của thuật ngữ sức mạnh mềm trong quan hệ quốc tế - Joseph Nye.
Từ sau chiến tranh lạnh, trong suốt cuộc đời nghiên cứu của ông đều hướng về khai thác khái niệm sức mạnh mềm. Qua từng tác phẩm của mình, ông đã làm rõ hơn về quyền lực mềm.