Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề Kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế I- cơ sở lý luận của vấn đề kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế 1. học thuyết chủ nghĩa Mác- Lê Nin. Học thuyết Mác-Lê Nin là một tài sản lý luận vô cùng quý báu của nhân loại. Đây thực sự là kết tinh của văn minh trí tuệ loài người.
Vào những thập kỷ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, giai cấp tư sản tiến hành bóc lột, vơ vét của cải nhằm làm giàu cho chủ nghĩa tư bản. Giai cấp tư sản đã dựa trên mồ hôi, nước mắt, sức lao động của giai vô sản để làm giàu cho chình mình, chúng sãn sàng gạt bỏ tất cả những mối quan hệ tình cảm , với chúng chẳng có gì hơn là "mối lợi lạnh lùng và nối trả tiền ngay không tình không nghĩa ." trước tình hình đó giai cấp vô sản đã vùng dậy đấu tranh để đòi quyền lợi và nhằm giải phóng chính mình. Trong thời kì này những phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản diễn ra mang tính chất tự phát vì chưa có đường lối lãnh đạo, chưa có lý luận soi đường. Trong hoàn cảnh đó chủ nghĩa Mác - Lê Nin đã từng bước xâm nhập vào phong trào công nhân trở thành tư tưởng, nền tảng, kim chỉ nam cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân.
Có lý luận soi đường, có hướng dẫn về mặt tổ chức phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đã chuyển từ tự phát sang tự giác. Với cách mạng Việt Nam vào những thập niên đầu của thế kỷ XX phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân còn mang tính tự phát nhưng sau đó vào những năm 20 của thế kỷ XX thì phong trào đấu tranh đã chuyển dần sang tự giác mà mốc đánh dấu sự chuyển biến này là vào năm 1925. Có được sự chuyển biến từ tự phát sang tự giác của phong trào công nhân Việt Nam là do sự hoạt động tích cực, sự hy sinh bản thân mình của chủ tịch Hồ Chí Minh. Vượt qua những khó khăn gian khổ người đã tìm thấy chủ nghĩa Mác - Lê Nin.
Qua thực tiễn cách mạng thế giới qua nghiên cứu người đã đi đến khảng định : "Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê Nin." Từ sự khảng định đó người đã tìm cách truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê Nin vào cách mạng Việt Nam cũng từ đây cách mạng Việt Nam đã có đường lối và bước đi đúng đắn. Như vậy qua thực tiễn đất nước trong hiện tại cũng như trog quá khứ chúng ta có thể thấy được sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, thấy được vai trò tư tưởng kim chỉ nam của học thuyết Mác- Lê Nin đối với cách mạng Việt Nam. Cần thấy rằng Đảng ra đời, các cương lĩnh cách mạng, đường lối lãnh đạo của Đảng đều là sự kết hợp lý luận Mác -Lê Nin với thực tiễn đất nước, là sự kết hợp tư tưởng nhân văn truyền thống Việt Nam với chủ nghĩa Mác - Lê Nin trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam. Hồ chí Minh đã từng nói : "Đảng truyền bá lý luận Mác -Lê Nin vào trong nhân dân ta, có lý luận soi đường thì quần chúng hành động mới đúng đắn, mới phát triển được tài năng và lực lượng vô cùng vô tận của mình ."[1, 12] Như vậy nhờ có chủ nghĩa Mác -Lê Nin làm nền tảng tư tưởng , làm kim chỉ nam , có cương lĩnh , đường lối và chính sách cách mạng đúng đắn, sáng tạo nên Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành đội tiên phong có tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Từ đó trong quá trình lãnh đạo của mình, Đảng đã vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê Nin vào cách mạng Việt Nam trong sự kết hợp hai nhân tố dân tộc và quốc tế. Chủ nghĩa Mác - Lê Nin cho rằng: cách mạng là sự nghiệp của đông đảo quần chúng nhân dân được giác ngộ cách mạng chứ không phải của riêng một cá nhân , một giai cấp hay một tầng lớp nào .Đông đảo quần chúng nhân dân được giác ngộ cách mạng sẽ hợp lại thành một sức mạnh to lớn ,đấu tranh cho các mục tiêu xác định theo đường lối đúng đắn của chính đảng vô sản. Ngược lại giai cấp vô sản phải có nhiệm vụ tổ chức, đoàn kết các giai cấp ,các tầng lớp nhân dân được giác ngộ trong nước tạo thành một sức mạnh tổng hợp để chiến thắng bất kỳ một sự phản động, xâm lược nào. Đặc biệt cùng với sự tổ chức đó thì giai cấp vô sản giữa các nước thuộc địa cũng như chính quốc phải liên kết lại tạo thành một sức mạnh vô sản quốc tế để chống lại sự phản kháng của giai cấp tư sản và các thế lực phản động.
Như chúng ta đã biết vì lợi ích giai cấp tư sản sẽ không bao giờ tự rời bỏ địa vị thống trị của mình, vì lợi nhuận giai cấp chúng có thể dùng bất cứ một thủ đoạn nào kể cả những thủ đoạn bỉ ổi nhất. Mặt khác giai cấp tư sản giữa nước trên thế giới có sự liên kết qua lại với nhau, muốn chặt bỏ, phá bỏ sự liên kết đó thì giai cấp vô sản giữa các nước phải đoàn kết lại thành một khối thống nhất. Như Mác -Ăng ghen và sau này là Lê Nin chỉ ra: "vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức trên thế giới đoàn kết lại ." Như vậy chủ nghĩa Mác -Lê Nin cho rằng cách mạng giải phóng dân tộc do giai cấp vô sản lãnh đạo có mối gắn bó khăng khít với cách mạng thế giới và đây chính là cơ sở lý luận cho Đảng ta vận dụng vào kết hợp sức mạnh dân tộc và quốc tế trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Viêt Nam Đảng ta còn căn cứ vào quan điểm của triết học Mác-Lê Nin về mối liên hệ phổ biến về mối liên hệ giữa yếu tố bên trong và bên ngoài.
Triết học Mác - Lê Nin cho rằng: trong thế giới vật chất các sự vật hiện tượng luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển không ngừng. Muốn xem xét sự tồn tại và biến đổi của nó, muốn biến đổi nó phải đặt nó trong mối liên hệ đan xen, xâm nhập , bổ sung với sự vật khác. theo Ăng ghen: "khi ta quan sát vật chất vận động thì cái đập vào mắt trước nhất là mối liên hệ lẫn nhau giữa những sự vận động riêng biệt của những vật thể riêng biệt, là tình trạng cái này làm điều kiện, làm tiền đề cho cái kia ." [2 ,366]; sau này Lê Nin chỉ rõ : muốn thực sự hiểu được các sự vật , phải nắm được và nghiên cứu mọi mặt, mọi mối liên hệ của nó. Theo triết học Mác -Lê Nin : trong mọi sự vật hiện tượng đều có mối quan hệ khăng khít giữa mối liên hệ bên trong và bên ngoài .trong đó mối liên hệ bên trong giữ vai trò chủ đạo, quyết định với sự tồn tại , vận động và phát triển của sự vật.
Tuy nhiên mối liên hệ bên ngoài cũng có tính độc lập tương đối nó tác động trở lại với mối liên hệ bên trong làm cho mối liên hệ bên trong vận động và phát triển. Các sự vật hiện tượng trong thế giới luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng , nhưng chúng có mối liên hệ qua lại với nhau. Trong sự phát triển của mỗi sự vật hiện tượng đều có mối quan hệ khăng khít giữa bên trong và bên ngoài cũng như trong mọi cuộc cách mạng muốn giành thắng lợi thì phải biết kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Chính tư tưởng biện chứng về mối liên hệ bên trong và bên ngoài đã được Đảng ta vận dụng vào sách lược kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và trong quá trình đổi mới từ 1986 đến nay.
2- tư tuởng hồ chí mih. Năm 1958 thực dân pháp nổ súng xâm lược nước ta. Sau khi pháp xâm lược và đô hộ, xã hội Việt Nam chuyển sang biến nhanh chóng từ xã hội phong kiến trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Cũng từ đây xã hội Việt Nam lâm vào thời kỳ đen tối; nhân dân bị cưỡng bức bóc lột, xã hội Việt Nam đeo trên mình ách gông cùm mà chưa tìm được lối thoát.
Nhân dân ta bị dồn tới chân tường tiếng khóc, kêu than trong khắp thôn cùng ngõ hẻm. "Có áp bức thì có đấu tranh "hàng loạt các cuộc đấu tranh đã diễn ra từ Bắc đến Nam nhưng máu vẫn đổ xuống mà dân tộc vẫn chìm trong đêm tối. Lịch sử đã khảo nghiệm rất nhiều các cương lĩnh cứu nước khác nhau, nhưng đám mây đen vẫn bao phủ trên bầu trời Việt Nam, cách mạng Việt Nam như người đi trong đêm tối không có ngọn đuốc soi đường chỉ lối. Trước tình hình đó, vì vận mệnh của dân tộc Nguyễn ái Quốc đẫ ra đi tìm đường cứu nước.
Mặc cho sóng gió bôn ba, nguy hiểm vây quanh người vẫn khắc phục và vượt qua để quyết tâm đi tìm con đường giải phóng cho dân tộc. Trải qua thực tiễn cách mạng thế giới qua tìm tòi nghiên cứu đã tìm thấy "cẩm nang thần kỳ"đó chính là lý luận chủ nghĩa Mác- Lê Nin về cách mạng giải phóng dân tộc , về sự kết hợp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người đã tìm mọi biện pháp để từng bước truyền bá chủ nghĩa Mác-Lê Nin về nước. Đễn những năm 40 của thế kỷ XX người đã về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Sự lãnh đạo ,tác phong và những lời dạy của Người được tập hợp lại thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam trở thành "cẩm nang thần kỳ" thứ 2 cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.Cùng với chủ nghĩa Mác - Lê Nin ,tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam. Một trong những tư tưởng nổi bật đó là sự kết hợp hai nhân tố dân tộc và quốc tế, cụ thể : 2.1- Ngay từ rất sớm Hồ Chí Minh đã nhận thấy được sức mạnh to lớn khi nhân dân trong nước và trên thế giới đoàn kết lại người đã thấy được sức mạnh khi nhân dân trên khắp năm châu đoàn kết.