Luận Văn Về Sự Kết Hợp Nhân Tố Dân Tộc và Quốc Tế Trong Cách Mạng Việt Nam Thời Kỳ Đổi Mới

Chuyên đề nghiên cứu Sự Kết Hợp Dân Tộc và Quốc Tế Trong Cách Mạng Việt Nam ..., cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo cao cho chuyên gia chuyên

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Chính trị học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2023

71
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về sự kết hợp dân tộc và quốc tế

Sự kết hợp giữa dân tộcquốc tế trong cách mạng Việt Nam thời kỳ đổi mới là một vấn đề mang tính chiến lược. Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức rõ rằng để xây dựng một xã hội tiến bộ, cần phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Lịch sử cho thấy, trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, sự đoàn kết trong nước và sự hỗ trợ từ quốc tế đã tạo nên những chiến thắng vĩ đại. Đảng đã khẳng định rằng, trong thời kỳ đổi mới, việc kết hợp này không chỉ là một yêu cầu mà còn là một tất yếu khách quan. Điều này thể hiện rõ trong các nghị quyết của Đại hội Đảng, từ Đại hội VI đến nay, khi Đảng đã chủ trương đẩy mạnh sự kết hợp này để phục vụ cho sự nghiệp đổi mới đất nước.

1.1. Tầm quan trọng của sự kết hợp

Sự kết hợp giữa dân tộcquốc tế không chỉ là một chiến lược mà còn là một nguyên tắc cơ bản trong chính sách đối ngoại của Đảng. Đảng đã nhận thức rằng, để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội, cần phải tận dụng sức mạnh từ bên ngoài. Điều này không chỉ giúp Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu mà còn tạo ra cơ hội để phát triển bền vững. Sự kết hợp này đã được thể hiện qua các chính sách đối ngoại, như việc mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài và tham gia vào các tổ chức quốc tế. Đảng đã khẳng định rằng, sự phát triển của đất nước không thể tách rời khỏi sự hỗ trợ và hợp tác quốc tế.

II. Cơ sở lý luận của sự kết hợp

Cơ sở lý luận cho sự kết hợp giữa dân tộcquốc tế được xây dựng trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa Mác - Lê Nin nhấn mạnh rằng cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, và sự đoàn kết giữa các giai cấp, các dân tộc là yếu tố quyết định cho thành công của cách mạng. Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng khẳng định rằng, để giành được độc lập và tự do, cần phải kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Người đã chỉ ra rằng, sự đoàn kết toàn dân là yếu tố quyết định cho mọi thắng lợi của cách mạng. Điều này thể hiện rõ trong các chính sách của Đảng, khi luôn coi trọng việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc và tăng cường hợp tác quốc tế.

2.1. Chủ nghĩa Mác Lê Nin

Chủ nghĩa Mác - Lê Nin cung cấp một nền tảng lý luận vững chắc cho sự kết hợp giữa dân tộcquốc tế. Theo đó, cách mạng không chỉ là sự nghiệp của một giai cấp mà là của toàn thể nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng lý luận này để xây dựng đường lối lãnh đạo, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế. Điều này đã giúp Đảng có được sự ủng hộ từ các nước bạn bè, đồng thời tạo ra một sức mạnh tổng hợp để đấu tranh cho độc lập và tự do của dân tộc.

III. Thực tiễn áp dụng sự kết hợp

Trong thực tiễn, sự kết hợp giữa dân tộcquốc tế đã được thể hiện qua nhiều chính sách và chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Đảng đã chủ trương mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển các mối quan hệ đối tác chiến lược. Điều này không chỉ giúp Việt Nam phát triển kinh tế mà còn nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế. Sự kết hợp này đã tạo ra nhiều cơ hội cho người dân, đồng thời cũng đặt ra những thách thức mới trong quá trình phát triển. Đảng đã nhận thức rõ rằng, để phát triển bền vững, cần phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, đồng thời duy trì sự ổn định chính trị và xã hội.

3.1. Các chính sách đối ngoại

Các chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đã thể hiện rõ sự kết hợp giữa dân tộcquốc tế. Đảng đã chủ trương mở rộng quan hệ hợp tác với các nước, tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực. Điều này không chỉ giúp Việt Nam thu hút đầu tư, công nghệ mà còn tạo ra cơ hội để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Sự kết hợp này đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

09/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề Kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế I- cơ sở lý luận của vấn đề kết hợp nhân tố dân tộc và quốc tế 1. học thuyết chủ nghĩa Mác- Lê Nin. Học thuyết Mác-Lê Nin là một tài sản lý luận vô cùng quý báu của nhân loại. Đây thực sự là kết tinh của văn minh trí tuệ loài người.

Vào những thập kỷ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, giai cấp tư sản tiến hành bóc lột, vơ vét của cải nhằm làm giàu cho chủ nghĩa tư bản. Giai cấp tư sản đã dựa trên mồ hôi, nước mắt, sức lao động của giai vô sản để làm giàu cho chình mình, chúng sãn sàng gạt bỏ tất cả những mối quan hệ tình cảm , với chúng chẳng có gì hơn là "mối lợi lạnh lùng và nối trả tiền ngay không tình không nghĩa ." trước tình hình đó giai cấp vô sản đã vùng dậy đấu tranh để đòi quyền lợi và nhằm giải phóng chính mình. Trong thời kì này những phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản diễn ra mang tính chất tự phát vì chưa có đường lối lãnh đạo, chưa có lý luận soi đường. Trong hoàn cảnh đó chủ nghĩa Mác - Lê Nin đã từng bước xâm nhập vào phong trào công nhân trở thành tư tưởng, nền tảng, kim chỉ nam cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân.

Có lý luận soi đường, có hướng dẫn về mặt tổ chức phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đã chuyển từ tự phát sang tự giác. Với cách mạng Việt Nam vào những thập niên đầu của thế kỷ XX phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân còn mang tính tự phát nhưng sau đó vào những năm 20 của thế kỷ XX thì phong trào đấu tranh đã chuyển dần sang tự giác mà mốc đánh dấu sự chuyển biến này là vào năm 1925. Có được sự chuyển biến từ tự phát sang tự giác của phong trào công nhân Việt Nam là do sự hoạt động tích cực, sự hy sinh bản thân mình của chủ tịch Hồ Chí Minh. Vượt qua những khó khăn gian khổ người đã tìm thấy chủ nghĩa Mác - Lê Nin.

Qua thực tiễn cách mạng thế giới qua nghiên cứu người đã đi đến khảng định : "Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê Nin." Từ sự khảng định đó người đã tìm cách truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê Nin vào cách mạng Việt Nam cũng từ đây cách mạng Việt Nam đã có đường lối và bước đi đúng đắn. Như vậy qua thực tiễn đất nước trong hiện tại cũng như trog quá khứ chúng ta có thể thấy được sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, thấy được vai trò tư tưởng kim chỉ nam của học thuyết Mác- Lê Nin đối với cách mạng Việt Nam. Cần thấy rằng Đảng ra đời, các cương lĩnh cách mạng, đường lối lãnh đạo của Đảng đều là sự kết hợp lý luận Mác -Lê Nin với thực tiễn đất nước, là sự kết hợp tư tưởng nhân văn truyền thống Việt Nam với chủ nghĩa Mác - Lê Nin trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam. Hồ chí Minh đã từng nói : "Đảng truyền bá lý luận Mác -Lê Nin vào trong nhân dân ta, có lý luận soi đường thì quần chúng hành động mới đúng đắn, mới phát triển được tài năng và lực lượng vô cùng vô tận của mình ."[1, 12] Như vậy nhờ có chủ nghĩa Mác -Lê Nin làm nền tảng tư tưởng , làm kim chỉ nam , có cương lĩnh , đường lối và chính sách cách mạng đúng đắn, sáng tạo nên Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành đội tiên phong có tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Từ đó trong quá trình lãnh đạo của mình, Đảng đã vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê Nin vào cách mạng Việt Nam trong sự kết hợp hai nhân tố dân tộc và quốc tế. Chủ nghĩa Mác - Lê Nin cho rằng: cách mạng là sự nghiệp của đông đảo quần chúng nhân dân được giác ngộ cách mạng chứ không phải của riêng một cá nhân , một giai cấp hay một tầng lớp nào .Đông đảo quần chúng nhân dân được giác ngộ cách mạng sẽ hợp lại thành một sức mạnh to lớn ,đấu tranh cho các mục tiêu xác định theo đường lối đúng đắn của chính đảng vô sản. Ngược lại giai cấp vô sản phải có nhiệm vụ tổ chức, đoàn kết các giai cấp ,các tầng lớp nhân dân được giác ngộ trong nước tạo thành một sức mạnh tổng hợp để chiến thắng bất kỳ một sự phản động, xâm lược nào. Đặc biệt cùng với sự tổ chức đó thì giai cấp vô sản giữa các nước thuộc địa cũng như chính quốc phải liên kết lại tạo thành một sức mạnh vô sản quốc tế để chống lại sự phản kháng của giai cấp tư sản và các thế lực phản động.

Như chúng ta đã biết vì lợi ích giai cấp tư sản sẽ không bao giờ tự rời bỏ địa vị thống trị của mình, vì lợi nhuận giai cấp chúng có thể dùng bất cứ một thủ đoạn nào kể cả những thủ đoạn bỉ ổi nhất. Mặt khác giai cấp tư sản giữa nước trên thế giới có sự liên kết qua lại với nhau, muốn chặt bỏ, phá bỏ sự liên kết đó thì giai cấp vô sản giữa các nước phải đoàn kết lại thành một khối thống nhất. Như Mác -Ăng ghen và sau này là Lê Nin chỉ ra: "vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức trên thế giới đoàn kết lại ." Như vậy chủ nghĩa Mác -Lê Nin cho rằng cách mạng giải phóng dân tộc do giai cấp vô sản lãnh đạo có mối gắn bó khăng khít với cách mạng thế giới và đây chính là cơ sở lý luận cho Đảng ta vận dụng vào kết hợp sức mạnh dân tộc và quốc tế trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Viêt Nam Đảng ta còn căn cứ vào quan điểm của triết học Mác-Lê Nin về mối liên hệ phổ biến về mối liên hệ giữa yếu tố bên trong và bên ngoài.

Triết học Mác - Lê Nin cho rằng: trong thế giới vật chất các sự vật hiện tượng luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển không ngừng. Muốn xem xét sự tồn tại và biến đổi của nó, muốn biến đổi nó phải đặt nó trong mối liên hệ đan xen, xâm nhập , bổ sung với sự vật khác. theo Ăng ghen: "khi ta quan sát vật chất vận động thì cái đập vào mắt trước nhất là mối liên hệ lẫn nhau giữa những sự vận động riêng biệt của những vật thể riêng biệt, là tình trạng cái này làm điều kiện, làm tiền đề cho cái kia ." [2 ,366]; sau này Lê Nin chỉ rõ : muốn thực sự hiểu được các sự vật , phải nắm được và nghiên cứu mọi mặt, mọi mối liên hệ của nó. Theo triết học Mác -Lê Nin : trong mọi sự vật hiện tượng đều có mối quan hệ khăng khít giữa mối liên hệ bên trong và bên ngoài .trong đó mối liên hệ bên trong giữ vai trò chủ đạo, quyết định với sự tồn tại , vận động và phát triển của sự vật.

Tuy nhiên mối liên hệ bên ngoài cũng có tính độc lập tương đối nó tác động trở lại với mối liên hệ bên trong làm cho mối liên hệ bên trong vận động và phát triển. Các sự vật hiện tượng trong thế giới luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng , nhưng chúng có mối liên hệ qua lại với nhau. Trong sự phát triển của mỗi sự vật hiện tượng đều có mối quan hệ khăng khít giữa bên trong và bên ngoài cũng như trong mọi cuộc cách mạng muốn giành thắng lợi thì phải biết kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Chính tư tưởng biện chứng về mối liên hệ bên trong và bên ngoài đã được Đảng ta vận dụng vào sách lược kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và trong quá trình đổi mới từ 1986 đến nay.

2- tư tuởng hồ chí mih. Năm 1958 thực dân pháp nổ súng xâm lược nước ta. Sau khi pháp xâm lược và đô hộ, xã hội Việt Nam chuyển sang biến nhanh chóng từ xã hội phong kiến trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Cũng từ đây xã hội Việt Nam lâm vào thời kỳ đen tối; nhân dân bị cưỡng bức bóc lột, xã hội Việt Nam đeo trên mình ách gông cùm mà chưa tìm được lối thoát.

Nhân dân ta bị dồn tới chân tường tiếng khóc, kêu than trong khắp thôn cùng ngõ hẻm. "Có áp bức thì có đấu tranh "hàng loạt các cuộc đấu tranh đã diễn ra từ Bắc đến Nam nhưng máu vẫn đổ xuống mà dân tộc vẫn chìm trong đêm tối. Lịch sử đã khảo nghiệm rất nhiều các cương lĩnh cứu nước khác nhau, nhưng đám mây đen vẫn bao phủ trên bầu trời Việt Nam, cách mạng Việt Nam như người đi trong đêm tối không có ngọn đuốc soi đường chỉ lối. Trước tình hình đó, vì vận mệnh của dân tộc Nguyễn ái Quốc đẫ ra đi tìm đường cứu nước.

Mặc cho sóng gió bôn ba, nguy hiểm vây quanh người vẫn khắc phục và vượt qua để quyết tâm đi tìm con đường giải phóng cho dân tộc. Trải qua thực tiễn cách mạng thế giới qua tìm tòi nghiên cứu đã tìm thấy "cẩm nang thần kỳ"đó chính là lý luận chủ nghĩa Mác- Lê Nin về cách mạng giải phóng dân tộc , về sự kết hợp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người đã tìm mọi biện pháp để từng bước truyền bá chủ nghĩa Mác-Lê Nin về nước. Đễn những năm 40 của thế kỷ XX người đã về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Sự lãnh đạo ,tác phong và những lời dạy của Người được tập hợp lại thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam trở thành "cẩm nang thần kỳ" thứ 2 cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.Cùng với chủ nghĩa Mác - Lê Nin ,tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam. Một trong những tư tưởng nổi bật đó là sự kết hợp hai nhân tố dân tộc và quốc tế, cụ thể : 2.1- Ngay từ rất sớm Hồ Chí Minh đã nhận thấy được sức mạnh to lớn khi nhân dân trong nước và trên thế giới đoàn kết lại người đã thấy được sức mạnh khi nhân dân trên khắp năm châu đoàn kết.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ