Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC 1. TỔNG QUAN VỀ TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1. Trên thế giới Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, một số nhà khoa học Nga như: P. đã đánh giá cao vai trò giáo dục, đặc biệt và tính hấp dẫn của trò chơi dân gian Nga đối với trẻ mẫu giáo.Pokrovxki trong lời đề tựa cho tuyển tập “Trò chơi của trẻ em Nga” đã chỉ ra nguồn gốc, giá trị đặc biệt và tính hấp dẫn lạ thường của trò chơi dân gian Nga.
Bên cạnh kho tàng trò chơi học tập trong dân gian còn có một số hệ thống trò chơi dạy học khác do các nhà giáo dục có tên tuổi xây dựng.Bazedov cho rằng, trò chơi là phương tiện dạy học. Theo ông, nếu trên tiết học, giáo viên sử dụng các phương pháp, biện pháp chơi hoặc tiến hành tiết học dưới hình thức chơi thì sẽ đáp ứng được nhu cầu và phù hợp với đặc điểm của người học và tất nhiên hiệu quả tiết học sẽ cao hơn. Ông đã đưa ra hệ thống trò chơi học tập dùng lời như: trò chơi gọi tên, trò chơi phát triển kỹ năng khái quát tên gọi của cá thể, trò chơi đoán từ trái nghĩa, điền những từ còn thiếu. Theo ông, những trò chơi này mang lại cho người học niềm vui và phát triển năng lực trí tuệ của chúng.
[25] Đại diện cho khuynh hướng sử dụng trò chơi dạy học làm phương tiện phát triển toàn diện cho trẻ phải kể đến: Thứ nhất nhà sư phạm nổi tiếng người tiệp khắc I. Ông coi trò chơi là hình thức hoạt động cần thiết, phù hợp với bản chất và khuynh hướng của trẻ. Trò chơi dạy học là một dạng hoạt động trí tuệ nghiêm túc, là nơi mọi khả năng của trẻ em được phát triển, mở rộng phong phú thêm vốn hiểu biết. Trang 7 Với quan điểm trò chơi là niềm vui sướng của tuổi thơ, là phương tiện phát triển toàn diện cho trẻ nên I.Komenxki đã khuyên người lớn phải chú ý đến trò chơi dạy học cho trẻ và phải hướng dẫn, chỉ đạo đúng đắn cho trẻ chơi.
Thứ hai nhà sư phạm người Đức Ph.Phroebel(1782-1852) trong nền giáo dục cổ điển, ý tưởng sử dụng trò chơi với mục đích dạy học được thể hiện đầy đủ trong hệ thống giáo dục của ông. Ông là người đã khởi xướng và đề xuất ý tưởng kết hợp dạy học với trò chơi cho trẻ. Quan điểm của ông về trò chơi phản ánh cơ sở lý luận sư phạm duy tâm thần bí. Ông cho rằng thông qua trò chơi trẻ nhận thức được cái khởi đầu do thượng đế sinh ra tồn tại ở khắp mọi nơi, nhận thức được những qui luật tạo ra thế giới, tạo ra ngay chính bản thân mình.
Vì thế ông phủ nhận tính sáng tạo và tính tích cực của trẻ trong khi chơi.Phroebel cho rằng, nhà giáo dục chỉ cần phát triển cái vốn có sẵn của trẻ, ông đề cao vai trò giáo dục của trò chơi trong quá trình phát triển thể chất, làm vốn ngôn ngữ cũng như phát triển tư duy, trí tưởng tượng của trẻ. Bên cạnh đó, tính tích cực trong trò chơi dạy học cũng được các nhà khoa học khác như: B. nghiên cứu theo các khía cạnh khác nhau. Thứ nhất, nghiên cứu và xem xét tính tích cực nhận thức của người học trong mối quan hệ giữa nhận thức và tình cảm,ý chí (A.) hướng nghiên cứu này đã bổ trợ rất nhiều cho các nhà giáo dục trong việc tìm kiếm những con đường và điều kiện cần thiết nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của người học.
Thứ hai, nghiên cứu về bản chất và cấu trúc của tính tích cực nhận thức của người lớn và trẻ em, trong đó đặc biệt lưu ý tới vai trò chủ động và chủ thể trong quá trình nhận thức (B.Anstova, Xavier Roegiers, Jean-Marc Denomme, Madedine Roy.) các tác giả này coi tính tích cực nhận thức là thái độ của chủ thể nhận thức đối với đối tượng nhận thức thông qua việc huy động các chức năng tâm lý ở mức độ cao nhằm giải quyết những vấn đề nhận thức. Và vào những năm 30-40-60 của thế kỷ XX, vấn đề sử dụng trò chơi dạy học trong“tiết học”đã được phản ánh trong công trình nghiên cứu của R.Giucovxkaia, Trang 8 VR.Giucovxkaia đã nâng cao vị thế của dạy học bằng trò chơi. Bà chỉ ra những tiềm năng và lợi thế của những “tiết học” dưới hình thức trò chơi học tập, coi trò chơi học tập như là hình thức dạy học, giúp người học lĩnh hội những tri thức mới từ những ý tưởng đó. Bà đã soạn thảo ra một số “tiết học – trò chơi” và đưa ra một số yêu cầu khi xây dựng chúng.
Ở Việt Nam Ở Việt Nam, có nhiều tác giả nghiên cứu về việc thiết kế và sử dụng trò chơi dạy học dưới các góc độ và nhiều bộ môn khác nhau. Những hệ thống trò chơi và trò chơi học tập được các tác giả đề cập đến chủ yếu nhằm củng cố kiến thức. Các tác giả đặc biệt quan tâm đến ý nghĩa phát triển của trò chơi học tập, không chỉ phát triển ở các giác quan mà phát triển các chức năng tâm lý chung của người học. Tuy nhiên, trong các nghiên cứu này cũng chưa đi sâu nghiên cứu việc xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học dành cho quá trình nhận thức của người học.
Một số luận văn, luận án và các nhà nghiên cứu gần đây cũng đề cập đến việc xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học nhằm phát huy tính tích cực của người học. Tuy nhiên, mỗi một tác giả lại xem xét các trò chơi dạy học ở các bộ môn khác nhau, chẳng hạn: Trương Thị Xuân Huệ nghiên cứu việc xây dựng và sử dụng trò chơi nhằm hình thành biểu tượng toán ban đầu cho trẻ 5-6 tuổi. Hứa Thị Hạnh nghiên cứu việc thiết kế và sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi) hay các sách được giới thiệu trong cuốn “Tổ chức hoạt động vui chơi ở tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ, thế lực cho học sinh” của Hà Nhật Thăng (chủ biên) hay cuốn “150 trò chơi thiếu nhi ” của Bùi Sĩ Tụng, Trần Quang Đức (đồng chủ biên). Cuốn “Học mà vui, vui mà học” của Nguyễn Xuân Đĩnh…Trong các tài liệu này các tác giả đã đề cập rất rõ vai trò của trò chơi, đưa ra những hoạt động vui chơi chung, nhưng chưa đi sâu vào ứng dụng của trò chơi trong môn học cụ thể.
Tác giả đã nêu ra một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh thông qua việc xây dựng và sử dụng trò chơi học tập. Tuy nhiên, các tác giả chỉ dừng lại ở phạm vi nghiên cứu chủ yếu là trẻ. Trang 9 Đối với các môn học như môn tiếng Anh, tiếng Pháp, văn học, lịch sử, toán học, hóa học… đã có nhiều cuốn sách viết về các trò chơi dạy học của một số tác giả như Phan Huỳnh Hoa, Vũ Minh Hồng, Trương Kim Oanh, Phan Kim Liên, Lê Bích Ngọc .Tuy nhiên, đối với môn Địa lí thì chưa có ai chú ý đến việc sử dụng phương pháp dạy học bằng trò chơi vào dạy học Địa lí. Mặc dù cũng đã có rất nhiều sách, nhiều đề tài nghiên cứu viết về trò chơi học tập môn Địa lí cho bậc tiểu học, THCS như trong môn học tự nhiên và xã hội ở Tiểu học có cuốn “Trò chơi học tập môn tự nhiên và xã hội lớp 1, 2 và 3” của Bùi Phương Nga (chủ biên) có đề cập đến một vài trò chơi sử dụng trong môn Địa lí, hay một số đề tài nghiên cứu như “Sử dụng CNTT vào việc tổ chức trò chơi khi dạy Lịch sử và Địa lí lớp 4” của giáo viên Nguyễn Thị Huyền trường tiểu học Trần Phú.
Đề tài nghiên cứu khoa học và đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy của giảng viên Ngô Thị Hải Yến (Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội) “Tổ chức trò chơi trong dạy – học Địa lí lớp 9 – THCS thông qua khai thác kênh hình”… Như vậy, Ở các cấp học lớn hơn thì chưa có ai chú ý đến điều này. Do vậy mà người nghiên cứu đã thực hiện đề tài này, nhằm nghiên cứu đưa vào sử dụng trò chơi dạy học vào chương trình Địa lí phổ thông (lớp 10). ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN TÂM LÍ LỨA TUỔI HỌC SINH LỚP 10 Chuyển từ cấp THCS sang cấp THPT, học sinh lớp 10 vẫn có nhu cầu vui chơi rất lớn mặc dù học tập vẫn là nhu cầu chính yếu. Việc tổ chức học tập có yếu tố vui chơi hợp lí là rất cần thiết để giúp học sinh lớp 10 học tập một cách nhẹ nhàng, đầy hứng thú và tư duy sáng tạo.
Những hiểu biết về đặc điểm tâm lý lứa tuổi mới lớn, về hoạt động học của các em là cơ sở khoa học để GV thực hiện tốt phương pháp dạy học. Tâm lý học Mác-xít cho rằng cần phải nghiên cứu tuổi thanh thiếu niên một cách toàn diện, phải kết hợp quan điểm tâm lý học xã hội với việc tính đến những quy luật bên trong của sự phát triển. Cơ chế của quá trình học tập: Học tập là sự thay đổi hành vi [9, trang 25] Mô hình học tập theo thuyết hành vi: R - S. Trong đó: R: hành vi - tác động; S: kích thích - hệ quả của hành vi.
Trang 10 Theo thuyết hành vi tạo tác của B.Skinner: “Dạy học chương trình hóa là phương pháp dạy học trong đó giáo viên tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của học sinh thông qua việc cung cấp cho họ chương trình học tập đã được cấu trúc từ trước. Sau khi thực hiện một chuỗi các hành động đúng, học sinh sẽ đạt được mục tiêu dạy học [21]. Chính vì vậy hoạt động học tập ở lứa tuổi này tác động đặc biệt đến sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh. Ở lứa tuổi học sinh này gọi là tuổi mới lớn nên có sự thay đổi về tâm sinh lý, nhu cầu về đòi hỏi, tìm hiểu và học tập rất cao.
Nội dung học tập được chia thành những đơn vị kiến thức hoặc kĩ năng nhỏ và được cấu trúc thành một hệ thống trí thức trọn vẹn theo logic, liều trước sẽ là điều kiện, phương tiện để tiếp tục liều sau. Mỗi liều kiến thức đều có những kích thích khiến cho người học hành động hoặc trả lời. Trong đó, có kích thích dẫn đến hành động đúng và cũng có kích thích dẫn đến hành động sai.