Chương 1 : Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng tài liệu bảo tàng lịch sử - cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông. Chương 2: Hình thức, biện pháp sử dụng tài liệu bảo tàng lịch sử Việt Nam trong dạy học lịch sử dân tộc từ cội nguồn đến thế kỉ XV ở lớp 10 trung học phổ thông (chương trình chuẩn) 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TÀI LIỆU BẢO TÀNG LỊCH SỬ- CÁCH MẠNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Khái quát về bảo tàng Theo các nhà nghiên cứu thì bảo tàng là cơ quan sưu tầm, giám định và trưng bày các tài liệu, hiện vật có tính chất nguyên gốc đầu tiên của tri thức về lịch sử phát triển của xã hội và tự nhiên, lịch sử của cuộc đấu tranh cách mạng. Thuật ngữ “bảo tàng” xuất phát từ ngôn ngữ cổ Hi Lạp “Musion”.
Lúc đầu, từ ngày chỉ có nghĩa là những bộ sưu tập có nguồn gốc tôn giáo; sau đó là do những cuộc xâm lược thời cổ đại, dưới thời hoàng đế Alếchxăng đri đã mở rộng lãnh thổ của đế quốc La Mã quanh bờ Địa Trung Hải. Trong các cuộc chiến tranh xâm lược này, quân La Lã đã cướp vể nhiều báu vật quý hiếm, nhiều tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật… Điều này đặt ra yêu cầu cần phải cất giữ những sáng tạo vô giá của văn minh nhân loại. Những báu vật đó đã hình thành các bộ sưu tập được lưu giữ, trưng bày và hình thành các nhà “bảo tàng”. Sau này trong ngôn ngữ ở tất cả các nước trên thế giới đều dùng chung thuật ngữ có nguồn gốc “Muse”.
Trung Quốc và Nhật Bản gọi đó là “bảo vật quán”. Ngày nay bảo tàng học trở thành một khoa học phát triển ở các quốc gia trên thế giới. Các nhà giáo dục tiên tiến ở các nước đã đi sâu tìm hiểu về bảo tàng, trong đó đặc biệt quan tâm đến sử dụng bảo tàng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông. Ở nước ta, dưới thời Pháp thuộc, đã xây dựng một số bảo tàng lớn như Lui Phi-nô (Hà Nội), Bảo tàng Hải dương học (Nha trang), Bảo tàng Chàm (trưng bày các hiện vật về văn hóa Chàm ở Đà Nẵng).
17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sau ngày giải phóng miền Bắc, chúng ra đã xây dựng nhiều Bảo tàng lịch sử, cách mạng quốc gia và các bảo tàng địa phương, bảo tàng chuyên ngành: Bảo tàng cách mạng (1958), Bảo tàng Quân đội nhân dân Việt Nam (1959), Bảo tàng Hồ Chí Minh (1990)… Mỗi bảo tàng có một chủ đề khác nhau, song nhìn chung đều phản ánh các chặng đường phát triển của dân tộc hay truyền thống của một địa phương, một ngành nào đó. Công việc nghiên cứu sử học không giống với công tác bảo tàng. Song kết quả nghiên cứu của sử học làm phong phú và phục vụ tốt cho công tác bảo tàng. Sử học và bảo tàng học cùng đối tượng nghiên cứu, đó là những hiện vật, những tài liệu có chứ viết, các tác phẩm nghệ thuật tạo hình, phim ảnh gốc phản ánh quá khứ.
Song lại khác nhau ở nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu. Bảo tàng học còn có mối quan hệ chặt chẽ với bảo tàng lịch sử. Bản thân bảo tàng là bài học lịch sử sinh động, sâu sắc. Việc sử dụng tư liệu bảo tàng trong dạy học lịch sử làm tăng chất lượng bài học.
Hệ thống bảo tàng nói chung và bảo tàng lịch sử nói riêng đều là cơ quan sưu tầm, giám định và trưng bày các tài liệu, hiện vật có tính chất nguyên gốc, đàu tiên của tri thức về lịch sử phát triển của tự nhiên và xã hội, về lịch sử của các cuộc đấu tranh cách mạng. Các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh hai chức năng của bảo tàng. - Trước hết, đó là chức năng nghiên cứu khoa học. Mọi hoạt động trong công tác nghiên cứu khoa học của bảo tàng đều phải xoay quanh các hiện vật gốc phù hợp với loại hình của bảo tàng.
Đây là trọng tâm, là cơ sở của mọi công tác nghiên cứu khoa học của bảo tàng. - Thứ hai là chức năng giáo dục. Các tư liệu, hiện vật trong bảo tàng được sắp xếp trưng bày có hệ thống để khách tham quan trong, ngoài nước hiểu và hình dung được tiến trình lịch sử Việt Nam, song khác với công tác giáo vụ của các cơ quan, phương tiện thông tin đại chúng ở chỗ công tác này phải dựa trên cơ sở nghiên cứu các hiện vật gốc. Bởi vì thông qua các tài liệu 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và hiện vật gốc được trưng bày ở bảo tàng nhằm gợi dậy những tư tưởng, tình cảm tốt đẹp cho người xem chứ không phải thông qua sách vở.
Vì vậy, thông qua các tài liệu, hiện vật trong bảo tàng cần khơi dậy những tư tưởng, tình cảm cho người xem. Với chức năng như vậy, bảo tàng có các nhiệm vụ - Tiến hành công tác nghiên cứu khoa học. - Tiến hành thu thập các tài liệu và hiện vật gốc phù hợp với loại hình bảo tàng. - Công tác kiểm kê giám định một cách có khoa học các hiện vật của bảo tàng.
- Công tác bảo quản hiện vật của bảo tàng. - Công tác trưng bày bảo tàng. - Công tác tuyên truyền giáo dục. Tùy theo nội dung, chức năng mà bảo tàng có nhiều loại: - Các bảo tàng lịch sử: như Bảo tàng lịch sử, Bảo tàng cách mạng, Bảo tàng quân đội, Bảo tàng Hồ Chí Minh… Các bảo tàng này chiếm vị trí rất quan trọng trong toàn bộ hệ thống bảo tàng Việt Nam.
Những hiện vật được trưng bày trong các bảo tàng này phản ảnh về đời sông văn hóa vật chất, tinh thần của con người Việt Nam từ khi hình thành đến nay. - Các bảo tàng nghệ thuật : nhằm sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu những tác phẩm nghệ thuật của nhiều thời đại khác nhau vào mục đích khoa học và giáo dục thẩm mĩ cho quần chúng. - Các bảo tàng chuyên ngành: như Bảo tàng Phụ nữ, Bảo tàng Không quân, Bảo tàng Văn học…Những bảo tàng này chiếm một số lượng nhất định trong toàn bộ hệ thống bảo tàng. Nhiệm vụ của chúng là sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu các hiện vật gốc của một ngành khoa học nhất định để nói lên sự phát triển, phục vụ cho công tác khoa học của chính bản thân ngành đó và quần chúng nhân dân.
19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Bảo tàng lịch sử tự nhiên: gồm các bảo tàng cùng loại hình với các ngành khoa học. Đối tượng nghiên cứu là các mặt khác nhau của thế giới tự nhiên như Bảo tàng động vật học, Bảo tàng thực vật học, Bảo tàng hải dương học,… - Các bảo tàng lưu niệm: nhằm lưu giữ lại trong quần chúng nhân dân những sự kiện, những nhân vật lịch sử lớn, quan trọng trên mọi mặt của đời sống xã hội, chính trị, quân sự, văn học, nghệ thuật… Loại bảo tàng này giới thiệu một cách hệ thống diễn biến những sự kiện, hoạt động của các nhân vật lịch sử. Ví như bảo tàng di tích ở số 5 Hàm Long, 48 Hàng Ngang (Hà Nội), di tích Kim Liên (Nghệ An), Pắc Pó (Cao Bằng), Tân Trào (Tuyên Quang),… - Các bảo tàng ở địa phương là cơ quan thực hiện các chức năng nghiên cứu khoa học và giáo dục ở mức độ nhất định, chủ yếu là sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu và trưng bày những tài liệu, hiện vật về văn hóa vật chất, tinh thần cũng như tự nhiên của địa phương đó. Hiện nay loại bảo tàng này vầ các nhà lưu niệm, truyền thống của địa phương phát triển rất mạnh mẽ ở các địa phương trong nước.
Trong các bảo tàng trên, bảo tàng lịch sử- cách mạng, bảo tàng địa phương và các nhà truyền thống, lưu niệm có khả năng phục vụ đắc lực cho việc dạy học lịch sử dân tộc ở trường phổ thông. Khái quát về bảo tàng lịch sử Việt Nam Trong hệ thống các Bảo tàng Quốc gia Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (BTLSVN) được thành lập sớm nhất. Tiền thân của BTLSVN là Bảo tàng Viễn Đông Bác Cổ. Năm 1926, Phủ Toàn quyền Đông Dương đã quyết định trao khu đất nằm bên bờ hữu ngạn sông Hồng cho trường Viễn Đông Bác Cổ để xây dựng ở đó một trung tâm văn hóa.
Trung tâm đó chính là bảo tàng Viễn Đông Bác Cổ. Bảo tàng này xây dựng với chủ đích tàng trữ, trưng bày và giới thiệu về nghệ thuật của một số quốc gia ở Đông Nam châu Á. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Người Pháp đã thiết kế nhà bảo tàng mang đậm phong cách Á Đông, một tổng thể kiến trúc đan xen nhiều đặc trưng kiến trúc của các dân tộc. Vì vậy tòa nhà phải xây dựng trong 6 năm mới hoàn thành (1932).
Bảo tàng chính thức được khánh thành với tên gọi “Bảo tàng Viễn Đông Bác Cổ” (hay “bảo tàng Lui Phi no” – tên người Pháp làm giám đốc bảo tàng). Dưới thời Pháp thuộc, bảo tàng này được xem như là một nơi dành riêng cho những nhà trí thức, những người thuộc tầng lớp thượng lưu tới đây thưởng ngoạn cổ vật. Sau năm 1954, bảo tàng Viễn Đông Bác Cổ được bàn giao lại cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ khi tiếp quản nhà bảo tàng, Chính phủ Việt Nam đã chủ trương xây dựng lại nội dung trưng bày mới nhằm đáp ứng yêu cầu của đất nước Việt Nam sau ngày giải phóng.
Ngày 3-2-1958, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam chính thức ra đời. Qua quá trình xây dựng và phát triển, Bảo tàng lịch sử Việt Nam đã nhanh chóng trở thành một trong những trung tâm văn hoá - khoa học của cả nước. Đây là nơi lưu giữ và trưng bày những di sản văn hoá vật thể quý báu của quốc gia, đồng thời cũng là nơi nghiên cứu khoa học và truyền bá khoa học lịch sử thông qua những bộ sưu tập hiện vật giá trị, quý hiếm và đầy sức truyền cảm, giúp cho người xem thấy được lịch sử văn hoá lâu đời và truyền thống anh dũng, kiên cường chống ngoại xâm trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Hệ thống trưng bày chính của bảo tàng - cuốn sử sống của dân tộc Việt Nam từ thời Tiền sử (cách ngày nay khoảng 30 - 40 vạn năm) đến Cách mạng Tháng Tám - 1945.
Với diện tích trưng bày hơn 2.