CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái quát chung về sơ đồ tư duy và sử dụng sơ đồ tư duy phát huy tính tích cực của học sinh 1. Sơ đồ tư duy a) Khái niệm Tony Buzan và Barry Buzan (1995) chỉ ra “SĐTD (Mind Map) là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng”. Trong đó, “tư duy của con người được thể hiện dưới dạng sơ đồ, bản đồ.
Ở giữa sơ đồ là một ý tưởng hay hình ảnh trung tâm. Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho các ý chính và đều được nối với trung tâm” [42, tr. Nguyễn Triệu Phú (2008) chỉ ra “SĐTD là hình thức ghi chép phi tuyến tính dưới dạng biểu đồ mở rộng; sử dụng màu sắc, đường nét và hình ảnh để biểu thị, phát triển hay đào sâu một ý tưởng nào đó. Nó phản ánh quá trình tư duy diễn ra bên trong đầu óc con người, có tác dụng hệ thống hóa các nội dung tri thức, thúc đẩy hoạt động ghi nhớ và phát huy tiềm năng sáng tạo” [35].
Trong SĐTD, các nhánh chính lại được “phân thành các nhánh nhỏ nhằm nghiên cứu chủ đề ở mức độ sâu hơn”. Những nhánh nhỏ này lại tiếp tục “phân thành nhiều nhánh nhỏ hơn, nhằm nghiên cứu vấn đề ở mức độ sâu hơn nữa”. Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởng cũng có sự liên kết dựa trên mối quan hệ của bản thân chúng, điều này khiến SĐTD có thể “bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu , rộng mà một bản liệt kê các ý tưởng thông thường không thể làm được” [42, tr. Một SĐTD thông thường có cấu trúc gồm hai phần chính: “các từ hình ảnh (hay từ khóa) và các đường nối liên kết chúng với nhau”.
Ở vị trí trung tâm, SĐTD là một “hình ảnh hay một từ khóa” thể hiện một ý tưởng hay khái niệm chủ đạo. Ý trung tâm sẽ được “nối với các hình ảnh hay từ khóa cấp 1 bằng các nhánh chính, từ các nhánh chính lại có sự phân nhánh đến các hình ảnh hay từ khóa cấp 2” để nghiên cứu sâu hơn. Cứ thế, sự “phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hình ảnh luôn được nối kết với nhau”. Chính sự liên kết này sẽ tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả về ý trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng [42].
10 Từ định nghĩa của các nhà khoa học nêu trên, chúng tôi cho rằng: SĐTD là một phương pháp ghi chép và biểu diễn thông tin dưới dạng biểu đồ mở rộng, sử dụng màu sắc, đường nét và hình ảnh để biểu thị, phát triển và đào sâu một ý tưởng hoặc chủ đề. b) Đặc điểm của SĐTD SĐTD có 4 đặc điểm chính: Thứ nhất, đối tượng được quan tâm, xác định rõ ràng và được kết tinh thành một hình ảnh trung tâm. Thứ hai, từ hình ảnh trung tâm, những chủ đề chính của đối tượng tỏa rộng thành các nhánh. Thứ ba, các nhánh đều cấu thành từ một hình ảnh chủ đạo hay các từ khóa trên một dòng liên kết.
Thứ tư, các nhánh tạo thành một cấu trúc nút liên hệ nhau. Ngoài ra, màu sắc, hình ảnh, kích thước trong SĐTD không chỉ làm nổi bật và phong phú nó, mà còn tăng tính sáng tạo và khả năng ghi nhớ [42]. Như vậy, SĐTD (Mindmap) là “phương pháp ghi chép nhanh chóng, tận dụng khả năng nghe, nhìn, xử lý thông tin và hệ thống hóa chúng lại” [42]. Sử dụng SĐTD trong học tập là một trong những cách GD kỹ thuật tổng hợp cho HS.
Nó có thể rèn luyện cho HS kỹ năng thực hành, dựa trên những điều đã học để tạo ra sản phẩm mới, cụ thể ở đây là những SĐTD khác nhau cho những vấn đề khác nhau. Sử dụng SĐTD trong việc giảng dạy Tiếng Việt là một trong những PPDH mang lại hiệu quả cao. Thông thường, chúng ta “ghi chép thông tin bằng cách sử dụng các ký tự, đường thẳng và con số”. Tuy nhiên, với phương pháp ghi chú truyền thống này, chúng ta “chỉ tận dụng một phần của bộ não - bộ não trái, trong khi không sử dụng kỹ năng của bộ não phải, nơi giúp chúng ta xử lý thông tin liên quan đến nhịp điệu, màu sắc, không gian và các yếu tố khác” [35].
Điều này làm cho cách ghi chú truyền thống trở nên hạn chế, không thể hiển thị toàn bộ bức tranh tổng thể của vấn đề một cách rõ ràng. Sử dụng sơ đồ tư duy phát huy tính tích cực của học sinh SĐTD là một công cụ tổ chức tư duy được tác giả Tony Buzan (người Anh) nghiên cứu kỹ lưỡng và chia sẻ khắp trên thế giới. Nó “giúp HS phát triển nhận thức, 11 khả năng tư duy, kích thích trí tưởng tượng, sáng tạo và đặc biệt là dễ nhìn, dễ viết và vô cùng dễ ghi nhớ” [42]. Sử dụng SĐTD là “phương pháp sử dụng những ký hiệu, hình ảnh sinh động minh họa giúp cho chúng ta ghi nhớ bài dễ dàng và hiệu quả hơn” [42].
Sử dụng SĐTD là một công cụ hiệu quả để phân tích vấn đề. Phương pháp này giúp người sử dụng thuận tiện trong việc hiểu rõ, tổ chức và kết nối các khía cạnh của vấn đề, tạo ra một liên kết logic giữa các yếu tố khác nhau. Việc sử dụng SĐTD cũng tận dụng tối đa khả năng tư duy của não bộ, mang lại sự linh hoạt và sáng tạo trong quá trình giải quyết vấn đề. Sử dụng SĐTD là phương pháp hữu hiệu giúp phát huy tính tích cực của HS.
Đầu tiên, SĐTD giúp HS tập trung và ghi nhớ thông tin một cách hiệu quả hơn. Bằng cách tổ chức thông tin một cách logic và trực quan, HS dễ dàng hấp thụ và lưu giữ kiến thức, từ đó tạo ra một môi trường học tập tích cực và nâng cao hứng thú trong việc học. Hơn nữa, SĐTD kích thích tư duy logic và sáng tạo. Việc xây dựng và sử dụng SĐTD yêu cầu HS suy luận, phân tích và tổ chức ý tưởng một cách có tổ chức và sáng tạo.
Điều này giúp HS tự tin hơn trong việc tiếp cận và giải quyết vấn đề, từ đó phát triển kỹ năng tự học và chủ động trong quá trình học tập. Ngoài ra, SĐTD giúp HS nhìn nhận vấn đề một cách tổng thể và phát triển tư duy phản biện. Thông qua việc liên kết các ý tưởng và mối quan hệ giữa chúng, HS có cơ hội phát triển khả năng suy luận, đánh giá và đưa ra những quyết định thông minh trong việc giải quyết vấn đề. Cuối cùng, SĐTD cũng tăng cường khả năng trình bày và thuyết trình của HS.
Việc tạo ra và trình bày SĐTD không chỉ là một cách để trình bày kiến thức một cách cơ bản mà còn là một cơ hội để HS thể hiện bản thân và phát triển kỹ năng giao tiếp. Ứng dụng của sơ đồ tư duy đối với học sinh Thứ nhất, ứng dụng SĐTD trong việc giúp HS ghi chép bài Giúp HS ghi chép bài học là một phần quan trọng trong quá trình giảng dạy. Trước hết, GV cần giới thiệu một số SĐTD cho HS làm quen, sau đó hướng dẫn từng bước để HS xây dựng các SĐTD riêng cho mình. Trong phạm vi cá nhân, HS có thể sử dụng SĐTD để học bài mới, ghi chép, tóm tắt, và hệ thống hóa kiến thức từng bài học, chủ đề của môn học.
Mục đích chính của việc ghi chép là ôn lại thông tin để tăng khả 12 năng ghi nhớ và tái hiện lại kiến thức. Sử dụng SĐTD giúp HS nhanh chóng ghi lại ý tưởng, sắp xếp thông tin theo cách hiểu của mình và bổ sung ý kiến cá nhân, từ đó tăng cường khả năng hiểu bài. Tuy nhiên, việc sử dụng SĐTD cũng gặp một số hạn chế, như sự không quen thuộc của HS với cách ghi chú truyền thống và khó khăn trong việc ghi theo SĐTD, đặc biệt là ở các SĐTD lớn sẽ gặp khó khăn vì kích thước trang giấy nhỏ hơn so với sơ đồ,… Thứ hai, ứng dụng SĐTD giúp HS tự học Sử dụng SĐTD trong hoạt động tự học ở nhà và tự học trên lớp giúp HS trở nên tự giác hơn trong việc tiếp cận và nắm bắt kiến thức. Tự học bằng SĐTD có thể được thực hiện dưới các hình thức sau: Tự học trên lớp: Đây là hình thức tự học theo hướng phát huy tính độc lập và tính sáng tạo của HS để thu nhận kiến thức mới trong các bài học hoặc hệ thống hoá kiến thức.
GV có thể hướng dẫn HS nghiên cứu nội dung bài học và tạo ra SĐTD phản ánh mối quan hệ giữa các yếu tố của bài học. Điều này giúp HS trở nên chủ động hơn trong quá trình học tập trên lớp. Tự học ở nhà: Tự học ở nhà với mục đích thu nhận kiến thức mới hoặc ôn tập, ghi nhớ và vận dụng kiến thức một cách linh hoạt. HS có thể sử dụng SĐTD để tóm tắt kiến thức mới, ôn tập kiến thức cũ và tập vận dụng kiến thức một cách linh hoạt.
Việc sử dụng SĐTD giúp HS xây dựng được mối liên hệ của các nội dung học tập, tạo ra một cơ sở vững chắc để ghi nhớ kiến thức theo cách hợp lý và khoa học. Thứ ba, ứng dụng SĐTD giúp HS trong thảo luận nhóm và thuyết trình Trong quá trình thảo luận nhóm, nhóm HS có thể gặp phải nhiều khó khăn khi mỗi HS giữ chính kiến của mình mà không tập trung vào mục tiêu chung của nhóm, dẫn đến việc không thể đạt được kết luận cuối cùng. Việc sử dụng SĐTD có thể khắc phục những hạn chế này. Bằng cách tạo ra một SĐTD chung, tất cả các thành viên trong nhóm đều hướng tới một mục tiêu chung và làm việc để giải quyết vấn đề.
SĐTD giúp tạo ra sự đồng thuận trong nhóm bằng cách tập trung suy nghĩ vào vấn đề chung và tránh xa khỏi việc lan man hoặc đi lạc chủ đề. 13 Hơn nữa, SĐTD có tính đa chiều, giúp cân bằng sự đóng góp của từng cá nhân trong nhóm và tạo ra sự cân bằng trong tập thể. Mọi ý kiến đều được tôn trọng và thể hiện trên SĐTD, giúp mọi thành viên hiểu rõ nội dung bài học và có thể ghi nhớ và áp dụng kiến thức một cách tốt hơn. Bằng cách này, việc thuyết trình nội dung bài học hay nhiệm vụ trở nên dễ dàng và không gây nhàm chán, từ đó phát triển kỹ năng thuyết trình của các em trước đám đông.
Các loại sơ đồ tư duy Có ba loại SĐTD cơ bản nhằm giúp sắp xếp kiến thức và học tập một cách có hiệu quả.