Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA ĐỊA PHƯƠNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài Di tích Di tích là những dấu vết vật chất của quá khứ còn tồn tại đến ngày nay. Theo từ Hán Việt, “di” có nghĩa là còn sót lại; “tích” có nghĩa là dấu vết. Trong tiếng Anh, di tích được gọi là vestiges - những “dấu vết”, “mảnh vụn” của quá khứ.
Theo điều 29 Luật Di sản văn hóa của Việt Nam được thông qua ngày 29/6/2001, căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hóa và khoa học, di tích được chia thành: Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương, di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia. Di tích lịch sử - văn hóa Theo điều 4 Luật di sản văn hóa của Việt Nam, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, kì họp thứ IX, Quốc hội khóa X thông qua ngày 29/06/2001 quy định: “Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [50]. Di tích LS-VH là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hoá lâu đời của dân tộc, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất về đặc trưng văn hoá, về cội nguồn và truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước hào hùng, vĩ đại của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng thời là một bộ phận cấu thành kho tàng di sản văn hoá nhân loại. Di tích được coi như những trang sử sống mang dấu ấn về sự biến động, thăng trầm của nhiều thời kỳ lịch sử quốc gia, dân tộc… Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Có nhiều cách phân loại di tích LS-VH: Trước hết, phân loại dựa vào nội dung phản ánh của di tích: Trong cuốn “Bảo tàng lịch sử, cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông trung học” (Nguyễn Thị Côi - chủ biên), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998) có các loại di tích lịch sử sau: di tích khảo cổ; di tích LS-VH; di tích lịch sử - cách mạng.
Trong tài liệu “Về vấn đề lưu niệm danh nhân cách mạng”, Bộ Văn hóa thông tin, Cục Bảo tồn bảo tàng và Bảo tàng Hồ Chí Minh, 1997, các tác giả chia di tích lịch sử ở nước ta thành hai loại: di tích gắn với một sự kiện lịch sử tiêu biểu và di tích lưu niệm danh nhân [13, tr. Một số ý kiến đưa ra cách phân loại di tích LS-VH thành 04 loại, gồm: di tích gắn với những sự kiện của lịch sử dân tộc, di tích gắn với thân thế sự nghiệp của các anh hùng dân tộc, di tích gắn với các danh nhân văn hóa tiêu biểu, di tích gắn với thân thế và sự nghiệp của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và nhà nước. Căn cứ vào Luật Di sản được thông qua 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản (2009), dựa vào phạm vi không gian tồn tại, ảnh hưởng của di tích, người ta xếp chúng thành 03 hạng: di tích cấp tỉnh; di tích cấp quốc gia và di tích cấp quốc gia đặc biệt. Phân loại dựa vào giai đoạn xảy ra sự kiện lịch sử: Sự kiện lịch sử diễn ra vào các giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn lịch sử có đặc trưng riêng, ví dụ các di tích lịch sử giai đoạn nguyên thủy, cổ đại, cận đại, hiện đại.
Trong mỗi giai đoạn, có các thời kì khác nhau, ví dụ trong lịch sử Việt Nam hiện đại có các di tích thời kháng chiến chống Pháp, các di tích thời kì kháng chiến chống Mĩ. Phân loại căn cứ vào dạng tồn tại: Có di tích hiện thực và di tích kỹ thuật số (di tích tương tác 3D). Như vậy, di tích LS-VH do con người hoạt động sáng tạo lịch sử, sáng tạo văn hóa mà hình thành, ghi dấu nhiều nội dung lịch sử khác nhau, có thể được phân chia thành: Loại hình văn hóa khảo cổ; Loại hình di tích lịch sử; Loại hình di tích văn hóa nghệ thuật; Các loại danh lam thắng cảnh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sử dụng di tích lịch sử - văn hóa trong dạy học lịch sử Sử dụng di tích LS-VH có nghĩa là dùng di tích hoặc tài liệu về di tích LS- VH trong dạy học nhằm đạt mục tiêu môn Lịch sử, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông.
Với thuộc tính trực quan, hấp dẫn và tính thuyết phục, sử dụng di tích LS-VH có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành kiến thức lịch sử, giáo dục tư tưởng, tình cảm đúng đắn cho HS. Sử dụng di tích chịu sự tác động, chi phối từ các thành tố của quá trình DHLS. Phương diện sử dụng di tích trong DHLS được cụ thể hóa ở các nội dung sau: Thông tin tài liệu; phương tiện trực quan; không gian, môi trường học tập; hướng dẫn viên. Phương diện sử dụng thể hiện tính bao quát, toàn diện của các bộ phận cấu thành di tích.
Sử dụng di tích lịch sử - văn hóa địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông tỉnh Thái Nguyên Sử dụng di tích LS-VH trong DHLS Việt Nam ở trường THPT tỉnh Thái Nguyên là việc GV khai thác tư liệu và tổ chức cho HS sử dụng di tích ngay tại địa phương Thái Nguyên để học tập nội dung lịch sử Việt Nam. Hoạt động trên vừa phát huy di sản của địa phương, đồng thời gắn kết nội dung kiến thức của di tích với lịch sử dân tộc. Các di tích tại địa phương gần gũi với GV, HS cho nên sẽ thuận lợi trong việc tiếp cận, khai thác sử dụng trong giờ học lịch sử. Hơn nữa, sử dụng di tích tại địa phương cũng chính là phương thức có nhiều ưu thế để phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa của quê hương, từ đó giáo dục sâu sắc tình yêu quê hương cho HS.
Trên cơ sở tìm hiểu về các di tích LS-VH, GV có thể lựa chọn, khai thác, sử dụng trong DHLS Việt Nam ở các trường THPT tỉnh Thái Nguyên phù hợp với từng bài, từng đơn vị kiến thức. Sử dụng các di tích LS-VH địa phương trong DHLS Việt Nam ở các trường THPT tỉnh Thái Nguyên có tác dụng quan trọng trong việc hình thành kiến thức, phát triển kĩ năng (quan sát, phân tích, đánh giá…), tạo xúc cảm lịch sử, giáo dục đạo đức, nhân cách cho HS, từ đó giúp các em hình thành các năng lực như tự học, giải quyết vấn đề, sáng tạo… Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cơ sở xuất phát của việc sử dụng di tích lịch sử - văn hóa địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường trung học phổ thông tỉnh Thái Nguyên Một là: Mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông Môn Lịch sử ở trường THPT là môn học quan trọng trong việc hình thành nhân cách, phẩm chất, phát triển năng lực HS. Cùng với các môn học khác, môn Lịch sử góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo dục phổ thông ở nước ta.
Điều này đã được đề cập trong Luật Giáo dục (2009) với mục tiêu đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Để góp phần thực hiện mục tiêu chung của hệ thống giáo dục phổ thông, bộ môn Lịch sử cần thực hiện các mục tiêu sau: Bồi dưỡng nhận thức, phát triển kĩ năng, định hướng thái độ, qua đó góp phần phát triển năng lực nói chung, năng lực bộ môn nói riêng và hình thành phẩm chất đạo đức cho HS. Về kiến thức: DHLS ở trường THPT phải cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản của khoa học lịch sử trên cơ sở củng cố, phát triển nội dung kiến thức đã học ở trung học cơ sở bao gồm: Sự kiện lịch sử cơ bản, nhân vật tiêu biểu, thời gian, không gian, các khái niệm, thuật ngữ, những hiểu biết về quan điểm lí luận sơ giản, những vấn đề nghiên cứu và học tập phù hợp với trình độ của HS. Về kỹ năng: Môn Lịch sử có thể phát triển trí thông minh của HS, rèn khả năng tư duy biện chứng trong học tập như kĩ năng học tập độc lập và thực hành bộ môn.
Ngoài ra, môn học cũng giúp HS có kĩ năng làm việc với sách giáo khoa, các tài liệu tham khảo, sử dụng lược đồ, ứng dụng công nghệ thông tin vào học tập… Về tư tưởng, tình cảm: Thông qua kiến thức lịch sử của từng giai đoạn góp phần giáo dục đạo đức, tư tưởng, ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước và hoàn thiện nhân cách cho HS. Về định hướng phát triển năng lực: Môn Lịch sử góp phần phát triển các năng lực chung, năng lực chuyên môn, tinh thần cộng đồng và những phẩm chất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiêu biểu của công dân toàn cầu trong xu thế phát triển, đổi mới, sáng tạo của thời đại. Hai là: Yêu cầu của đổi mới giáo dục hiện nay Cuộc cách mạng 4.0 cùng với xu hướng toàn cầu hóa đặt ra cho giáo dục Việt Nam yêu cầu phải đổi mới căn bản và toàn diện về nội dung, hình thức và phương pháp dạy học. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học.
Vì thế, việc sử dụng di tích LS-VH vào DHLS như một nguồn sử liệu quan trọng có ý nghĩa to lớn giúp HS khám phá, vận dụng kiến thức vào các tình huống học tập và thực tiễn cuộc sống.