Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan nghiên cứu về bài tập tình huống 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới việc thiết kế và sử dụng các tình huống được biết đến trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt nó được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực giáo dục. Sử dụng các tình huống trong giảng dạy được biết đến sớm nhất thuộc về lĩnh vực quản trị kinh doanh tại Đại học kinh doanh Havard do Christopher Columbus Langdell (1870) khởi xướng, coi tình huống là phương tiện đột phá khỏi hệ thống đọc, nghe, ghi chép truyền thống của giáo dục kinh viện, có vai trò rõ rệt là sinh viên có thể trao đổi, phản biện, tích cực tham gia vào bài giảng.
Những năm tiếp theo, các sinh viên tại đây thường xuyên thảo luận về các tình huống trong kinh doanh, do các đại diện doanh nghiệp được nhà trường mời đến để trình bày về thực tiễn quản trị kinh doanh, đưa ra các tình huống yêu cầu sinh viên phải nghiên cứu và đưa ra các giải pháp [dẫn theo 11]. PPDH này đã ảnh hưởng tới các trường đại học tại Canada và được nghiên cứu áp dụng. Năm 1921, Copeland đã ra đời cuốn sách đầu tiên về tình huống. Vai trò to lớn của áp dụng tình huống trong giảng dạy thuộc lĩnh vực quản trị đã lan rộng đến các ngành nghề đào tạo khác như y dược, luật, hàng không,… Khi William Osler áp dụng nghiên cứu tình huống vào đào tạo y khoa đã nhận thấy kết quả đáng khích lệ, chỉ sau hai năm học, sinh viên đã trở nên thuần thục với các kĩ năng trong y học [dẫn theo 11].
Tại Pháp, đầu thế kỉ XX, việc sử dụng tình huống đã được áp dụng nhưng chưa được thuyết phục do phần lớn tình huống là giả định. Từ những năm 1960, Gaston de Vilard xây dựng một giáo trình luân lí mà nội dung là những tình huống có thật, trong đó, GV xác định một số vấn đề lí thuyết ngắn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn gọn, nêu tình huống cụ thể cho HS thảo luận với nhau, cuối cùng GV kết luận. Phương pháp này đã gây được tiếng vang lớn trong toàn nước Pháp và sau đó được nghiên cứu, áp dụng trong nhiều ngành học khác nhau. Nghiên cứu sử dụng tình huống trong giáo dục khoa học xã hội được phát triển bởi nhà xã hội học Barney Glasser và Anselm Strauss vào năm 1967.
Từ đó, sử dụng tình huống trong đào tạo sư phạm được áp dụng và thể hiện được những tính năng ưu việt. Ở các nước phương Tây, các tác giả Grahame Feletti (1997) [30], Gramham Gibbs & Alen Jenkirs (1997) [31], Woods (1994) [32]. Các nhà nghiên cứu Liên bang Xô viết và Ba Lan như Machiuxkin (1972), Lecne I.F (1978), Ôkôn V (2006), … đã nghiên cứu việc sử dụng tình huống trong dạy học nêu vấn đề. Theo Ôkôn, sử dụng tình huống trong dạy học nêu vấn đề, bao gồm các hành động như: tổ chức các tình huống có vấn đề; biểu đạt các vấn đề; giúp đỡ HS những điều kiện cần thiết để giải quyết vấn đề; kiểm tra cách giải quyết vấn đề đó; cuối cùng, lãnh đạo quá trình hệ thống hóa và củng cố các kiến thức đã tiếp thu được [21].
Ở các nước châu Á, sử dụng tình huống trong nhiều lĩnh vực cũng được áp dụng rộng rãi và cho những hiệu quả nhất định. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Vấn đề dạy học tình huống được giới thiệu trong nhiều tài liệu, bài giảng của nhiều nhà nghiên cứu lí luận dạy học ở Việt Nam và đã có nhiều công trình khoa học, bài báo nghiên cứu về BTTH. Phan Thế Song và Lưu Xuân Mới (2000) đã đề cập đến những khái niệm tình huống, nêu năm đặc điểm của tình huống quản lí giáo dục: Tính cụ thể, thực tiễn của tình huống; tính ngẫu nhiên và tính quy luật trong sự xuất hiện tình huống; tính đa dạng phức tạp của tình huống; tính pha trộn và tính lan tỏa của các tình huống. Tác giả đã nêu được các bước tiến hành trong xử lí tình huống là: tiếp cận tình huống; phân tích, tổng hợp tìm ra nguyên nhân cốt lõi; tìm biện pháp xử lí; đánh giá kết quả và tổng kết một số bí quyết thành công trong xử lí tình huống [24].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Vận dụng BTTH được nghiên cứu trong giáo dục từ cấp mầm non [15], giúp cho quá trình giáo dục trở nên sinh động, có hiệu quả đối với trẻ mầm non. Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn thiên về việc GV là chủ thể tích cực vận dụng lí luận vào thực tiễn, chưa nêu rõ cách thức trẻ xử lí, vận dụng tình huống như thế nào. Trong dạy học ở trường phổ thông, nhiều nghiên cứu về BTTH được giới thiệu. Tác giả Trương Ngọc Bích nghiên cứu cách thức tổ chức cho HS đề xuất và giải quyết BTTH trong dạy học Ngữ văn, đưa ra hai cách thức: GV đưa ra BTTH, HS thảo luận, trả lời và HS đưa ra BTTH, GV, HS cùng thảo luận, trả lời.
Trong cả hai cách, GV biết khéo léo tác động, HS được kích thích tư duy sáng tạo để tìm kiếm giải đáp [3]. Tác giả Phạm Vũ Nhật Uyên quan tâm đến dạy học tình huống và một số biện pháp sử dụng tình huống trong dạy học hóa học, đã giới thiệu biện pháp lựa chọn, xây dựng hệ thống BTTH có tính khoa học, thiết thực, hấp dẫn; chuẩn bị các câu hỏi dẫn dắt, gợi mở; khai thác tính “vấn đề” của tình huống một cách khéo léo; khai thác có hiệu quả các thủ pháp về tâm lí; phát huy tối đa hiệu quả của các phương tiện dạy học [27]. Tuy nhiên, tác giả giới thiệu một cách chung chung, chưa có ví dụ cụ thể cho mỗi biện pháp. Nâng cao hiệu quả dạy học và bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học được tác giả Ngô Thị Ngọc Mai sử dụng bài tập thực tiễn, áp dục vào các hoạt động của bài học như xây dựng tình huống vào bài, hình thành kiến thức mới, vận dụng và ứng dụng kiến thức, củng cố, luyện tập, thực hành kiến thức [18].
Kết quả nghiên cứu về nguyên tắc, quy trình xây dựng và sử dụng bài tập thực tiễn của tác giả có thể vận dụng ở nhiều môn học khác nhau. Trong dạy học Sinh học, nhiều tác giả cũng đã quan tâm đến việc nghiên cứu áp dụng BTTH trong dạy học bộ môn như Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành, Lê Đình Trung, Vũ Đức Lưu, Nguyễn Phúc Chỉnh, Lê Thanh Oai, Nguyễn Đình Nhâm, Phan Đức Duy,… Phần lớn các tác giả đều khẳng định sự cần thiết của việc sử dụng BTTH, tình huống có vấn đề,… trong việc chủ động lĩnh hội kiến thức, phát huy tính sáng tạo, học tập của người học. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Trong công tác đào tạo cử nhân sư phạm, tác giả Phan Đức Duy quan tâm đến BTTH để rèn luyện kĩ năng dạy học [8]. Trong dạy học Sinh học phổ thông, nhiều tác giả đã nghiên cứu vận dụng BTTH để phát triển năng lực giải quyết vấn đề [23], [25] hoặc rèn kĩ năng [9], [13], [19].
Như vậy, nghiên cứu và vận dụng BTTH trong dạy học rất được quan tâm. Tuy đã có những nghiên cứu sử dụng BTTH trong dạy học phần SHVSV nhưng các nghiên cứu tập trung vào hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề hoặc rèn luyện kĩ năng cho HS. Nghiên cứu vận dụng BTTH trong dạy học SHVSV để hình thành và phát triển năng lực tự học còn hạn chế, cần có những nghiên cứu lí luận và thực tiễn cụ thể. Những vấn đề chung về bài tập tình huống trong dạy học 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Bài tập Đã có nhiều quan niệm về bài tập, các quan niệm đó đều xác định bài tập gồm hai yếu tố cơ bản: Những điều kiện (cái đã cho, cái đã biết) và những yêu cầu (cái phải tìm, cái chưa biết); bài tập giúp HS nắm vững tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo tương ứng; bài tập có nhiều dạng khác nhau: câu hỏi, bài toán, tình huống có vấn đề hay yêu cầu hoạt động. Bài tập là các nhiệm vụ học tập mà GV đặt ra cho HS thực hiện, được thể hiện dưới dạng câu hỏi, bài toán, tình huống có vấn đề hay yêu cầu hoạt động, buộc HS tìm điều chưa biết trên cơ sở những điều đã biết, qua đó nắm vững tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo tương ứng [14]. Tuy nhiên, bài tập có thể là một câu hỏi, một thí nghiệm, một bài toán hay một bài toán nhận thức, bài tập là một tập hợp các kiến thức xác định bao gồm những vấn đề đã biết và chưa biết nhưng luôn mâu thuẫn nhau dẫn tới việc phải biến đổi chúng để tìm lời giải.
Vì thế, bài tập bao gồm các thông tin xác định, những điều kiện và những yêu cầu được đưa ra trong quá trình dạy học, đòi hỏi người học tìm ra lời giải đáp, qua đó nắm vững tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo tương ứng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Tình huống Tình huống là khái niệm được định nghĩa có những dấu hiệu khác nhau tùy theo từng đối tượng xem xét. Theo quan niệm triết học, “Tình huống là một tổ hợp các mối quan hệ xã hội cụ thể, ở một thời điểm nhất định liên kết con người với môi trường của anh ta, lúc đó anh ta biến thành một chủ thể của hoạt động có đối tượng nhằm đạt được mục tiêu nhất định”.
Theo từ điển tiếng Việt, “Tình huống là toàn thể những sự việc xảy ra tại một địa điểm, trong một thời gian cụ thể, buộc người ta phải suy nghĩ, hành động, đối phó, tìm cách giải quyết”. Theo từ điển Tâm lí học, NXB Khoa học xã hội (2000), “Tình huống là hệ thống các sự kiện bên ngoài có quan hệ với chủ thể, có tác dụng thúc đẩy chủ thể đó. Trong quan hệ không gian, tình huống xảy ra bên ngoài nhận thức của chủ thể. Trong quan hệ thời gian, tình huống xảy ra trước so với hành động của chủ thể.
Trong quan hệ chức năng, tình huống là sự độc lập của các sự kiện đối với chủ thể ở thời điểm mà người đó thực hiện hành động” [dẫn theo 12]. Theo Boehrer, “Tình huống là một câu chuyện, có cốt truyện và nhân vật, liên hệ đến một hoàn cảnh cụ thể, từ góc độ cá nhân hay nhóm, và thường là hành động chưa hoàn chỉnh.