Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG HỌC TẬP MÔN TÂM LÝ HỌC CỦA HỌC VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN II 1. Tổng quan nghiên cứu về vấn đề kỹ năng học tập 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Trong cuốn “Tam Tự Kinh” của học giả Vương Ưng Lân (1223-1296) thời nhà Tống (Trung Quốc) đã khẳng định: “Ngọc bất trác, bất thành khí; Nhân bất học, bất tri lí”.
Điều này có nghĩa: Ngọc là vật quý nhất trên đời nhưng không mài giũa thì cũng không có giá trị, cũng như Người không học thì không thể biết đạo lí ở đời. Việc học cũng như mài giũa Ngọc, phải kiên nhẫn, phải khổ luyện, phải hy sinh thì mới nên Người. Có lẽ “Tam Tự Kinh” là một trong những cuốn sách giáo khoa đầu tiên trên thế giới nói về việc học và kỹ năng học, đã từng là cuốn sánh vỡ lòng cho hệ thống giáo dục phong kiến ở Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản suốt hàng ngàn năm lịch sử. Năm 1990, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) cũng đã xếp “Tam tự kinh” vào “Tùng thư đạo đức nhi đồng” (Tủ sách giáo dục đạo đức nhi đồng) để giáo dục nhi đồng trên toàn thế giới.
Bước sang thời kỳ cận đại (bắt đầu từ thế kỷ XVIII) gắn liền với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, những tiến bộ của công nghệ và các cuộc cánh mạng xã hội. Các công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục học nổi tiếng như Jean-Jacques Rousseau với tác phẩm Émile ou de l'éducation (là một tuyệt tác nói về nền giáo dục công dân), qua đó ông khẳng định mục đích của giáo dục là học cách sống và điều này có thể đạt được khi có người chỉ dẫn con đường đi để có một cuộc sống tốt đẹp; K.Comenxki cũng đã đề cập đến kỹ năng trí tuệ và sự hình thành kỹ năng này. Tuy nhiên, “từ thế kỷ XIX trở về trước vấn đề kỹ năng chưa được nghiên cứu một cách rõ rệt và có hệ thống” (Nguyễn Huy Toàn, 2011). Từ thế kỷ XX tới nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành khoa học trong đó có Tâm lý học - Giáo dục học, vấn đề kỹ năng đã được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn.
Vào những năm 20-30 của thế kỷ XX, vấn đề kỹ năng được nhiều nhà giáo dục học Liên Xô quan tâm nghiên cứu Như N. Luan van 10 Makarenko đi sâu nghiên cứu ý nghĩa của việc dạy kế hoạch và tự kiểm tra.Crupxcaia rất quan tâm tới việc hình thành những kỹ năng lao động và hướng nghiệp cho học sinh phổ thông. Năm 1932 nhà giáo dục vĩ đại A.Makarenko đưa ra nhận xét: Đối với chúng ta không thể có vấn đề nào quan trọng hơn vấn đề logic của phương tiện sư phạm; Bản chất của vấn đề “logic sư phạm” đó là phương pháp luận khoa học giáo dục XHCN, bàn về bản chất của các quá trình sư phạm dưới ánh sáng triết học Mác – Lênin nhằm giải quyết một cách khoa học các mâu thuẫn trong quá trình giáo dục con người XHCN; Lôgic sư phạm là sự giải quyết hợp lý, trọn vẹn, cân bằng đồng bộ các yêu cầu phát triển toàn diện nhân cách, trí tuệ, tình cảm, nhận thức, ý chí, năng lực, thể chất để mỗi người có khả năng tự điều chỉnh nhu cầu, hứng thú, nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền lợi và quyền hạn… A. Makarenko khẳng định rằng không có một khoa học nào có tính chất biện chứng hơn khoa học giáo dục con người, bởi lẽ con người là sống động, con người là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội và tự nhiên, con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội…Vì vậy logic sư phạm chính là tìm ra cái quy luật bản chất hợp lý, triệt để nhất để đem lại hiệu quả tối ưu của quá trình phát triển nhân cách (Hà Nhật Thăng và Đào Thanh Âm, 1998, chương 13).
Chúng tôi cho rằng những quan điểm tiến bộ của A.Makarenko về con đường giáo dục, về “logic sư phạm” chính là cái mà ngày nay chúng ta gọi là KNHT và những giá trị của quan điểm ấy vẫn còn hiện diện trong mỗi chúng ta. Cùng với xu thế phát triển của Tâm lý học - Giáo dục học những nghiên cứu về kỹ năng học tập cũng có sự phân hóa thành nhiều khuynh hướng khác nhau với những cách tiếp cận khác nhau. Hướng thứ nhất: Nghiên cứu kỹ năng học trong những vấn đề lý luận chung của hoạt động dạy học như bản chất, cấu trúc, đặc điểm, nội dung, mục đích, động cơ, phương pháp, phương tiện của hoạt động dạy-học. Khuynh hướng này được thể hiện ở các công trình của các nhà tâm lý học Liên Xô như L.Đavưđốp (Hệ thống dạy học dưới sự chỉ đạo), những nguyên tắc lý luận cùng kết quả thực nghiệm Luan van 11 dạy học của họ trong nhiều năm đã đem lại những đóng góp to lớn cho nền giáo dục Xô Viết.
Tại Mỹ, Nhà giáo dục vĩ đại John Dewey với những tác phẩm như Trường học và xã hội (The School and Society, 1899), Cách chúng ta nghĩ (How We Think, 1910), Kinh nghiệm và giáo dục (Experience and Education, 1938), và Dân chủ và giáo dục (Democracy and Education, 1916), trong đó, ông chủ trương một nền giáo dục gẳn liền lý thuyết với thực tiễn. John Dewey chủ trương “Giáo dục chính là bản thân cuộc sống” (Education is life itself). Giáo dục chính là bản thân cuộc sống vì nhà trường không thể tách khói hoạt động thực tiễn và kiến thức không thể được áp đặt từ bên ngoài. Giáo dục chính là bàn thân cuộc sống, vì không thể có một thứ giáo dục chung cho tất cả mọi người.
“Người thầy phải ý thức rõ và tôn trọng sự khác biệt giữa các học sinh; Giáo dục chính là bản thân cuộc sống, vì nó phải là quá trình của người học chứ không phải của người dạy. Giáo dục là quá trình mà người học là trung tâm. Nói cách khác, giáo dục phải là một quá trình dân chủ sâu sắc” (Jonh Dewey, 2008). Hướng thứ hai: Nghiên cứu kỹ năng học như là trình độ thực hiện hành động (xét dưới yếu tố kỹ thuật) hoặc coi kỹ năng là khả năng con người thực hiện một việc gì đó có hiệu quả.
Kỹ năng ở đây được các nhà nghiên cứu coi là biểu hiện năng lực của con người. Rudic đề cập tới kỹ năng bậc thấp, kỹ năng đầu tiên của hành động. Ông chú ý tới mức độ hoàn thiện của kỹ năng là kỹ xảo. Theo ông mục đích của việc tiếp thu hành động là tạo ra kỹ xảo, để khi hành động không phải nghĩ tới từng thao tác nữa.
Điều này rất cần thiết đối với hành động có các thao tác đòi hỏi độ chính xác cao trong những điều kiện ổn định; A.Petrovxki xem xét kỹ năng của những hành động phức tạp và điều kiện hành động không ổn định. Ông nhấn mạnh cơ sở của việc hình thành kỹ năng là tri thức, kỹ năng đó đã do hành động trước đó mang lại; V.Tsêbưsêva đã nghiên cứu kỹ năng và đưa ra các phương pháp hình thành kỹ năng. Theo tác giả kỹ năng là khả năng thực hiện một hành động nào đó dựa trên những tri thức và kỹ xảo được hoàn thiện dần trong quá trình hoạt động. Ông nêu lên các điều kiện và các bước hình thành kĩ năng.
Tác giả đặc biệt nhấn Luan van 12 mạnh vai trò tích cực của người học trong quá trình hình thành kĩ năng, và khẳng định: Các quá trình nhận thức trong học tập càng tích cực bao nhiêu, thì kĩ năng, kĩ xảo càng hình thành và nhanh chóng hoàn thiện hơn bấy nhiêu. Từ đây tác giả đã đưa ra kết luận sư phạm rất quan trọng: “Khi huấn luyện nếu giảm dần vai trò của nhà giáo dục để người học tự làm lấy thì kĩ năng sẽ hình thành nhanh chóng và ổn định hơn” (Hà Nhật Thăng và Đào Thanh Âm, 1998). Mặc khác, tác giả cũng nhấn mạnh rằng, nhà trường phải chú ý đúng mức đến chất lượng các kĩ năng, kĩ xảo nếu không người học sẽ hình thành kĩ năng kĩ xảo chưa hoàn thiện, sau này phải học lại. Trong các nghiên cứu của mình V.
Tsêbưsêva đã nêu những phương pháp và điều kiện rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh. Tác giả cho rằng tùy theo đặc điểm của các kĩ năng, kĩ xảo mà định ra những hình thức tổ chức và biện pháp, phương pháp giảng dạy thích hợp; A.Leonchiev thì nhấn mạnh điều kiện hình thành kỹ năng là tri thức và kinh nghiệm đã có trước đó.Cudơmina đề xuất, cấu trúc của hoạt động học tập gồm 5 nhóm kĩ năng cơ bản: Nhóm kĩ năng nhận thức, nhóm kĩ năng thiết kế, nhóm kĩ năng kết cấu, nhóm kĩ năng giao tiếp, nhóm kĩ năng tổ chức. “Đây là cách phân loại kĩ năng được nhiều nhà giáo dục đồng tình. Tuy nhiên, khi bàn đến từng kĩ năng thành phần thì còn nhiều điểm chung chung, chưa rõ ràng hoặc trùng lặp giữa kĩ năng này với kĩ năng khác” (Nguyễn Quang Uẩn, 2010, tr.
Cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, sự biến đổi của nền giáo dục hiện đại và nhịp sống của xã hội hậu công nghiệp, ngày nay xu hướng thứ hai này ngày càng trở nên thịnh hành. Tại Mỹ, nhiều nhà giáo dục thừa nhận quan điểm “kiến thức mà không áp dụng được vào thực tế thì nó chỉ là thông tin” (John Dewey). Chính vì vậy quan niệm về kỹ năng học được xem xét dưới góc độ kỹ thuật nhiều hơn. Một số nhà nghiên cứu về KN đem các sản phẩm của minh ra thị trường và đạt được thành công dưới góc độ thương mại như Tony Buzzan (sinh năm 1942 tại Luân Đôn, Giáo sư Đại học Oxford) Ông là cha đẻ của của phương pháp tư duy Mind map - Sơ đồ tư duy.
Ông hiện là tác giả của 92 đầu sách, được dịch ra trên 30 thứ tiếng, xuất bản trên 125 quốc gia. Không chỉ nổi tiếng là một tác giả mà còn là diễn giả nổi tiếng thế giới, Tony Buzzan còn là cố vấn cho một số tổ chức Luan van 13 chính phủ và các công ty đa quốc gia như IBM, BP, Barclays International, EDS. Tony Buzzan được xem là bậc thầy của kỹ năng học tập, những phương pháp học tập hiện đại, cụ thể, thiết thực và hiệu quả được ông tập hợp trong các cuốn sách nổi tiếng như “Kỹ năng học tập theo phương pháp Buzan” (The Buzan study skills handbook), “Sách dạy đọc nhanh” (The speed reading book), “Sơ đồ tư duy” (The mind map book), “Tốc độ đọc hiểu để thành công” (Speed reading), “Làm chủ trí nhớ của bạn” (Master your memory), “Sử dụng trí nhớ của bạn” (Use your memory), “Sử dụng trí tuệ của bạn” (Use your head).