Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC TRONG PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO B-LEARNING 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1 Phát triển năng lực tự học 1.1 Các kết quả nghiên cứu trên thế giới Vấn đề tự học, năng lực tự học và phát triển năng lực tự học đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu. Trên thế giới, ở phương Tây ngay từ rất sớm đã chú ý đến ý tưởng DH coi trọng và trao quyền tự chủ cho người học [10] thể hiện trong các quan điểm của Aristote (384 - 322 TCN), Socrate (469 - 399 TCN) và Heraclitus (530 - 4 5 TCN). Trong nền giáo dục cổ đại phương Đông, Khổng Tử (551 TCN - 479 TCN) đã có ý tưởng coi trọng việc tự tìm hiểu, tự phát hiện của học trò để phát triển tư duy và trí tuệ của họ.
Thầy là người nâng đỡ giúp trò cái thiết yếu nhất, còn trò phải từ đó mà tự tìm ra mọi vấn đề khác, người thầy không được làm thay học trò [11]. Đến nền giáo dục cận đại, Rubakin N. Trong nền giáo dục hiện đại, vấn đề phát triển NLTH cũng đã được quan tâm từ đầu thế kỷ XXI. Smith [13] chỉ ra yếu tố ảnh hưởng đến sự TH là mục tiêu học tập, tài liệu, các giai đoạn học tập, phương pháp và kỹ thuật, thời gian và địa điểm, qui trình đánh giá.
Stronge với công trình “ ững p ẩm ất ng g áo v ên q ả” đã nhấn mạnh đến việc GV tạo lập một môi trường học tập hiệu quả cho SV, trong đó có việc khuyến khích và phát triển NLTH đáp ứng những nhu cầu cá nhân của các nhóm SV chuyên biệt trong lớp học. Ông chú trọng việc hỗ trợ các hoạt động tích cực của SV thông qua thủ thuật đặt câu hỏi và thảo luận [14]., và Ortega Viera M. [15] đã chỉ ra việc quản lý học tập và tương tác với SV của GV ảnh hưởng đến động lực học tập và sự tham gia của SV. Shayer và Adey [16] đã đưa ra nhiều biện pháp giúp SV học tập một cách thông minh và nhấn mạnh việc tìm hiểu nhu cầu để đưa ra những gì cần giúp đỡ trong quá trình TH của SV.
Trong cuốn “ ền g áo d o t ế kỷ 21- ững tr n vọng Châu Á - Thái Bìn D ơng” tác giả Raja Roy Singh đã đưa ra những nghiên cứu về vai trò của NLTH trong việc học tập thường xuyên và học tập suốt đời [17]. Tác phẩm đề cao vai trò cố vấn của GV trong việc hướng dẫn SV học tập thường xuyên, học tập suốt đời và hình thành phát triển NLTH. Với quan niệm “học tập do người học điều khiển”, tác giả nhấn mạnh hoạt động học, vai trò của người học trong hoạt động học. Tác giả cho rằng làm thế nào để cá nhân hóa quá trình học tập, để cho tiềm năng của mỗi cá nhân được bộc lộ, phát triển đầy đủ đang là thách thức chủ yếu đối với giáo dục.
Marzano đã đưa ra được năm định hướng trong dạy học (DH) 11 và vận dụng chúng vào trong QTDH trong nghiên cứu “Dạy ọ t eo n ững địn ớng ng ọ ” [18]. Ông đã đề cao vai trò “lấy người học là trung tâm”, thông qua đó, SV được rèn luyện NL tự mở rộng và tinh lọc kiến thức, rèn luyện các thói quen tư duy. Đây cũng chính là một trong những mục tiêu quan trọng trong phát triển NLTH của SV. Trong một công trình khác có tên “ g t ật và K o ọ dạy ọ ”, tác giả Robert J.
Marzano tiếp tục đề cập đến việc hình thành NLTH của SV thông qua việc trả lời các câu hỏi lớn trong mỗi chương. Những câu hỏi này tập trung vào việc hình thành thái độ học tập tích cực cho SV, NL vận dung kiến thức và kiểm nghiệm các giả thuyết về kiến thức mới và làm thế nào để xây dựng bài học một cách hiệu quả [19]. vậy, á ng ên ứ t ê b á n à k o ọ trên t ế g ớ đề đã k ng địn v trò trong v ọ mỗ á n ân, á b n và kĩ năng ơ bản, á yế tố ản ởng và v trò GV trong v địn ớng, t ứ dạy ọ p át tr n o ng ọ. Q đ o t ấy v p át tr n là vô ng ần t ết, ản ởng to lớn tớ k ả năng ọ tập và s ốt đ ng ọ .2 Các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam Tại Việt Nam, thời phong kiến việc học chủ yếu được thực hiện qua việc người thầy truyền thụ kiến thức một chiều và trò học bằng cách bắt chước người thầy và ghi nhớ bài học.
Thời kì Pháp đô hộ, nền giáo dục vẫn còn lạc hậu, phương pháp học chủ yếu vẫn là thuộc lòng, ít tư duy, ghi nhớ nội dung bài học mà không cần phân tích hay suy luận, TH và phát triển NLTH cho người học vẫn chưa được nghiên cứu trong giai đoạn này [20]. Khi cách mạng Tháng Tám thành công, vấn đề TH được khởi xướng bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh với quan điểm “ òn sống t ì òn p ả ọ ”, “ á ọ p ả lấy tự ọ làm ốt” [21] và thực sự được nghiên cứu nghiêm túc và rộng rãi. Người đặc biệt coi trọng vai trò của việc tự học, lấy tự học làm cốt yếu, cốt lõi để có động lực và quyết tâm học tập. Từ đó đến đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về TH làm rõ tính cấp thiết, các cơ sở khoa học của TH và tính khả thi của dạy cách TH, tiêu biểu như: Dương Huy Cẩn [22], Nguyễn Thị Nguyệt [23] đã nghiên cứu các biện pháp phát triển NLTH cho sinh viên.
Nghiên cứu của Thái Duy Tuyên bàn về vấn đề này qua tác phẩm “P ơng p áp dạy ọ tr yền t ống và đ mớ ” [24]. Từ những hình thức TH mà tác giả đã đề xuất, những nghiên cứu sau này đã kế thừa và đưa ra những hình thức TH mới, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh. Tác giả đã làm rõ khái niệm TH, đưa ra một số phương pháp để SV có thể TH sau khi tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến việc TH của SV, bên cạnh đó, tác giả đưa ra những thành tố cần thiết để SV có thể TH qua bài viết “B d ỡng năng lự tự ọ o ọ s n ”[25]. Mặc dù vậy, với tốc độ tăng đột biến nguồn tri thức như hiện nay thì việc học với sách vở chưa thể đáp ứng đủ nhu cầu của mỗi người học.
Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn và cộng sự nghiên cứu việc hướng dẫn SV TH với tài liệu “Q á trìn dạy - tự ọ ” đưa ra các kết quả nghiên cứu và luận giải giải vấn đề “thầy dạy - trò tự học” theo phuơng pháp dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm từ việc học, tự học đến dạy - tự học; từ dạy - tự học ở nhà trường đến dạy - tự học trong gia đình… cũng như những giải pháp và kinh nghiệm khắc phục khó khăn để việc tự học đạt kết quả cao [26]. Phan Trọng Luận trong bài viết “ ự ọ một ì k 12 vàng g áo d ” đã nhấn mạnh đến vai trò của TH nói chung, NLTH nói riêng trong công tác đào tạo và phát triển con người, nêu nên bản chất của việc TH, những điều kiện của TH và việc giáo dục NLTH của SV, thể hiện vai trò của TH trong quá trình phát triển của đất nước [27]. Tác phẩm “ ự ọ s n v ên” của Hoàng Anh và Đỗ Thị Châu trong cho rằng kĩ năng TH là phương thức hành động trên cơ sở lựa chọn và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện có kết quả mục tiêu học tập đã đặt ra và phù hợp với những điều kiện cho phép thông qua việc đề xuất ba nhóm kĩ năng TH mà người học cần phải có để TH có hiệu quả [28]. Bàn về NTTH và phát triển NLTH cho sinh viên trong bài viết “P át tr n năng lự tự ọ trong oàn ản V t m”, tác giả Trịnh Quốc Lập cho rằng NLTH không chỉ là một phẩm chất dành cho người thuộc thế giới phương Tây và về bản chất, sinh viên Châu Á không phải là không có NLTH, hệ thống giáo dục ở các nước Châu Á chưa tạo đủ điều kiện để sinh viên phát triển NLTH, kết quả nghiên cứu của tác giả đã chứng minh rằng trong hoàn cảnh Việt Nam NLTH có thể được phát triển thông qua việc ứng dụng học tập tự điều chỉnh [29].
Đặng Thị Oanh và Dương Huy Cẩn với bài viết “ ứ sem n r t eo tà l tự ọ ớng dẫn n ằm tăng ng tự ọ , tự ng ên ứ o s n v ên” đã đưa ra phương pháp seminar theo tài liệu hướng dẫn làm tăng tính độc lập, chủ động hoạt động của người học, tăng dần hành động trực tiếp của người học vào nội dung học tập, tư duy sáng tạo và sự phát triển của người học [30]. Tác giả Dương Huy Cẩn đề cập đến việc phát triển NLTH của sinh viên, cách dạy của GV và một số biện pháp phát huy tính tích cực học tập, TH của sinh viên qua bài viết “V trò b d ỡng năng lự tự ọ o s n v ên g ảng v ên trong t ứ dạy ọ ” [31]. Bài viết “ ăng ng k ả năng tự ọ s n v ên q ớng dẫn s n v ên á ọ ” của Đặng Thị Thanh Mai và Nông Thị Hà đã đề cập đến loại TH có hướng dẫn, loại hoạt động TH của người học để chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng tương ứng dưới sự tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo của GV [32]. Nguyễn Văn Hiền tiếp tục đưa ra một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển NLTH dành cho sinh viên sư phạm thông qua nghiên cứu của mình, đồng thời đề xuất một số biện pháp phát triển NLTH cho sinh viên qua E-Learning [33].
Bàn về vấn đề đánh giá NLTH hai tác giả Phạm Thị Hồng Tú, Bùi Thị Minh Thu đã đưa ra các PPDH hướng tới phát triển NL của người học, các tác giả cũng cho rằng việc đánh giá NLTH cũng phải được thực hiện theo hướng phát triển NL của người học [34].