Chương 1: Cơ sở lý luận về đảm bảo chất lượng đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp. Chương 2: Thực trạng công tác đảm bảo chất lượng đào tạo ở trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Nam Định. Chương 3: Các giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Nam Định. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO TRONG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP 1.
Các khái niệm cơ bản 1. Đào tạo Khái niệm đào tạo (ĐT) thường gắn với giáo dục (GD) nhưng ĐT có nghĩa hẹp hơn GD, GD nhằm vào những năng lực rộng lớn còn ĐT nhằm vào năng lực cụ thể. GD được hiểu là các hoạt động, tác động hướng vào sự phát triển và rèn luyện năng lực, phẩm chất ở con người để có thể phát triển nhân cách đầy đủ nhất và trở nên có giá trị tích cực đối với xã hội. ĐT đề cập đến việc dạy các kỹ năng tư duy, thực hành nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng nghề nghiệp một cách có hệ thống, chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và đảm nhận được công việc nhất định trong tương lai.
Như vậy, GD và ĐT có điểm chung là hướng vào trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ để phát triển năng lực của con người. Có nhiều dạng đào tạo: ĐT cơ bản và ĐT chuyên sâu, ĐT chuyên môn và ĐT nghề, ĐT lại, ĐT từ xa, tự ĐT…Vậy đào tạo là gì? Theo Từ điển tiếng Việt, đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.một cách có hệ thống. Để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của con người [45,tr121]. ĐT là quá trình trang bị kiến thức nhất định về mặt chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận được một công việc nhất định [15,tr54].
ĐT là hoạt động mang tính phối hợp giữa các chủ thể dạy và học (người dạy và người học), là sự thống nhất hữu cơ giữa hai mặt dạy và học tiến hành trong một cơ sở đào tạo. Trong đó, tính chất, phạm vi, cấp độ, cấu trúc và quy trình của hoạt động được quy định một cách chặt chẽ, cụ thể, về mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, đánh giá kết quả đào tạo, cũng như thời gian và đối tượng đào tạo cụ thể [26]. Như vậy, ĐT có thể hiểu là một quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp đồng thời giáo dục phẩm chất đạo đức, thái độ cho người học để họ có 5 thể trở thành người lao động có chuyên môn, nghề nghiệp nhất định nhằm thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân, đáp ứng yêu cầu xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Quá trình này diễn ra trong một môi trường đào tạo theo một kế hoạch, nội dung, chương trình, thời gian quy định thông qua các hoạt động giảng dạy của GV, hoạt động học tập của HSSV, hoạt động giám sát, đánh giá kết quả học tập của HSSV.
Chất lượng Chất lượng (CL) là một khái niệm khá quen thuộc nhưng chất lượng là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường và cách hiểu của người này cũng khác với cách hiểu của người kia. Theo Từ điển tiếng Việt [45,tr235] :„„Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị một con người, một sự vật, sự việc ”. Trong lĩnh vực sản xuất, chất lượng là vấn đề quan trọng hàng đầu mà người sản xuất phải quan tâm thực hiện nhằm đáp ứng các qui định và yêu cầu do khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận [28,tr13]. Dưới đây là một số cách hiểu về CL thường gặp: [24,29,3,44] Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng (European Organization for Quality Control); Chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ liệu, các thông số cơ bản (Oxford Poket Dictationnary); Chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng (Tiêu chuẩn Pháp = NFX 50-109); Chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có (ISO 9000-2000); Chất lượng là toàn bộ các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và đã dự định (TCVN ISO 8402:1999); Chất lượng mang ý nghĩa tuyệt đối được dùng trong cuộc sống hàng ngày đề cập đến thứ tuyệt hảo, hoàn mỹ, được hiểu là chất lượng cao hay chất lượng cao nhất.
Chất lượng mang ý nghĩa tương đối, không xem chất lượng là thuộc tính của đồ vật và dịch vụ mà là cái người ta gán cho nó. Chất lượng không được coi là cái đích mà là phương tiện để đánh giá sản phẩm hay dịch vụ [28,tr15]. Như vậy, CL là một khái niệm tương đối, vì vậy khi xem xét phải căn cứ 6 vào điều kiện kỹ thuật và môi trường cụ thể. Một cách tổng quát có thể hiểu, CL là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thỏa mãn những yêu cầu đã được đặt ra.
Sự thỏa mãn nhu cầu phải được thể hiện trên nhiều phương diện như tính năng của sản phẩm, giá thỏa mãn nhu cầu, thời điểm cung cấp, dịch vụ chăm sóc. Khái niệm về chất lượng được tổng hợp, tóm lược thông qua các quy tắc sau [25]: Quy tắc 3P: Performance: Hiệu năng, khả năng hoàn thiện Price: Giá thỏa mãn nhu cầu Punctuality: Đúng thời điểm Quy tắc QCDSS: Quality: Chất lượng / Cost: Chi phí / Delivery timing: Thời điểm cung cấp / Service: Dịch vụ / Safety: An toàn. Chất lượng đào tạo Chất lượng đào tạo (CLĐT) được sự quan tâm của chính cơ sở đào tạo, người sử dụng lao động, của người học và gia đình người học, của cả xã hội. Các cơ sở đào tạo đều mong muốn đào tạo HSSV tốt nghiệp phù hợp với nhu cầu về chất lượng của xã hội và doanh nghiệp.
Do đó, việc đảm bảo CLĐT bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ cơ sở đào tạo nào. Tuy nhiên, khái niệm về chất lượng đào tạo có nhiều quan điểm khác nhau, cụ thể như sau: Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra đối với chương trình đào tạo (Lê Đức Ngọc, Lâm Quang Thiệp- Đại học quốc gia Hà Nội [26,tr521]). Theo Tác giả Trần Khánh Đức : “CLĐT là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực thực hành nghề của người tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành, nghề cụ thể” [24,26] Theo một số quan điểm về “Nguồn lực”, “CLĐT ở một trường phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào của trường đó” - Nói cách khác, CLĐT được đánh giá bằng “ Đầu vào”. “Đầu vào” ở đây là chất lượng đầu vào của thí sinh dự tuyển, thể hiện ở điểm thi tuyển, học bạ các cấp học trước, ý thức học tập, rèn luyện, đạo đức của thí sinh nhập học, là đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý, cơ sở vật chất… phục vụ hoạt động đào tạo, là sự gia tăng hàng năm về chỉ tiêu dự tuyển 7 cũng như nhập học của thí sinh dự thi… Với quan điểm này, có thể hiểu rằng một trường tuyển sinh “Đầu vào” cao, có đội ngũ cán bộ giảng dạy uy tín, có trang thiết bị dạy học tốt nhất thì sẽ cho chất lượng đào tạo cao mà không cần sự tác động tích cực của quá trình đào tạo diễn ra liên tục, đa dạng, phức tạp [25].
Một quan niệm khác cho rằng: CLĐT được đánh giá bằng “ Đầu ra”. “Đầu ra” thể hiện ở chất lượng của HSSV đã qua đào tạo tại trường có điểm học tập rèn luyện cao, có đạo đức, năng lực nghề nghiệp, có khả năng xin việc và đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động. Quan điểm này cho rằng “Đầu ra” là sản phẩm của đào tạo được thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc của HSSV tốt nghiệp hay khả năng hoạt động đào tạo của trường mà đã không xem xét đúng mối quan hệ cơ hữu của “Đầu ra” và “Đầu vào” [25]. Đánh giá vai trò quan trọng của quá trình đào tạo, có quan niệm cho rằng: CLĐT được đánh giá bằng “Quá trình đào tạo”.
Quá trình đào tạo bao gồm: Quá trình tổ chức hoạt động đào tạo, quá trình tổ chức kiểm tra, thi cử, quá trình quản lý, kiểm soát quá trình thực hiện đào tạo, thi cử, công nghệ đào tạo… Quan điểm này nhấn mạnh đến các yếu tố của quá trình đào tạo sẽ quyết định chất lượng đào tạo mà không xét đến chất lượng và ý thức đối tượng đào tạo, đối tượng tham gia vào quá trình đào tạo [25]. Lại có quan điểm cho rằng: CLĐT được đánh giá bằng “Kiểm toán”. Theo quan điểm này, một trường nếu có đủ thông tin cần thiết về quá trình đào tạo sẽ ra được quyết định chính xác, chất lượng giáo dục được đánh giá qua quá trình thực hiện, còn yếu tố “Đầu vào” hay “Đầu ra” chỉ là phụ, không quan trọng [25]. Tóm lại, những quan điểm khác nhau về CLĐT đã nêu trên chỉ phản ánh một góc độ, một mảng của CLĐT mà không phản ánh được đầy đủ bản chất của khái niệm chất lượng đào tạo.
Như vậy, có thể hiểu, CLĐT là tập hợp các giá trị phản ánh các đặc trưng về đào tạo tác động trực tiếp đến người học, việc học (Mục tiêu đào tạo, chương trình đào tạo, đội ngũ GV, cơ sở vật chất, chế độ chính sách, hoạt động quản lý…) tạo nên các phẩm chất, giá trị, nhân cách ở người học đáp ứng nhu cầu xã hội. Đảm bảo chất lượng đào tạo Đảm bảo chất lượng (ĐBCL) là toàn bộ các hoạt động có kế hoạch và hệ thống được tiến hành trong hệ chất lượng và được chứng minh đủ mức cần thiết để 8 tạo sự tin tưởng thỏa đáng rằng thực thể, đối tượng sẽ thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu chất lượng (TCVN ISO 8402:1999). Trong sản xuất, kinh doanh, ĐBCL là quá trình xảy ra trước và trong khi thực hiện.