Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh tại GDTX Cần Thơ

Tài liệu nghiên cứu Spd 2018 190724 1267, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về ., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Người đăng

Ẩn danh
150
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh GDTX

Trong bối cảnh xã hội hiện đại, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh giữ một vai trò nền tảng, đặc biệt tại các trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên (GDNN-GDTX). Đây không chỉ là quá trình truyền thụ kiến thức mà còn là sứ mệnh hình thành nhân cách học sinh một cách toàn diện. Quản lý được định nghĩa là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể lên đối tượng nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Trong lĩnh vực giáo dục, quá trình này bao gồm bốn chức năng cốt lõi: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Áp dụng vào công tác giáo dục đạo đức, quản lý là việc điều hành, phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường để thúc đẩy quá trình rèn luyện phẩm chất cho thế hệ trẻ. Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hà nhấn mạnh, mục tiêu của giáo dục đạo đức học sinh ở trung tâm GDNN-GDTX là giúp các em phát triển toàn diện, có nhân sinh quan trong sáng, và thích ứng với yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các học sinh tại đây có những đặc điểm tâm sinh lý và hoàn cảnh đặc thù, đòi hỏi một phương pháp quản lý linh hoạt và sâu sắc. Việc xây dựng một môi trường giáo dục lành mạnh, nơi các giá trị đạo đức được đề cao, là yếu tố quyết định sự thành công trong việc đào tạo những công dân có ích cho xã hội. Do đó, việc nghiên cứu và áp dụng các biện pháp quản lý hiệu quả là nhiệm vụ cấp thiết của các nhà quản lý giáo dục.

1.1. Khái niệm và vai trò của giáo dục đạo đức trong nhà trường

Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích và kế hoạch của nhà giáo dục nhằm hình thành ý thức, tình cảm, niềm tin và quan trọng nhất là thói quen hành vi đạo đức cho người học, phù hợp với các chuẩn mực xã hội. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đức phải là gốc, là nền tảng của con người. Trong môi trường học đường, đặc biệt là tại các trung tâm GDNN-GDTX, giáo dục đạo đức không chỉ là một môn học mà phải thẩm thấu vào mọi hoạt động. Vai trò của nó là định hướng giá trị, giúp học sinh phân biệt đúng-sai, tốt-xấu, từ đó tự điều chỉnh hành vi. Công tác này góp phần ngăn chặn các biểu hiện suy thoái đạo đức, xây dựng nhân cách học sinh lành mạnh, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Một nền giáo dục toàn diện phải đặt giáo dục đạo đức làm trọng tâm, bởi lẽ tài năng nếu không đi đôi với đạo đức có thể gây ra những hệ lụy tiêu cực.

1.2. Đặc điểm tâm sinh lý học sinh tại các trung tâm GDNN GDTX

Học sinh tại các trung tâm GDNN-GDTX phần lớn ở độ tuổi THPT, một giai đoạn phát triển thể chất mạnh mẽ nhưng tâm lý lại có nhiều biến động phức tạp. Các em có xu hướng muốn khẳng định bản thân, dễ bị kích thích và ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh. Tài liệu nghiên cứu chỉ ra rằng, đối tượng học sinh tại đây khá đa dạng: có em học lực yếu, có em hoàn cảnh gia đình khó khăn, hoặc đã gián đoạn việc học một thời gian. Điều này tạo ra thách thức lớn cho việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh. Các em thường thiếu động cơ học tập rõ ràng, dễ sa vào các tệ nạn nếu không được định hướng kịp thời. Vì vậy, các nhà quản lý và giáo viên cần thấu hiểu sâu sắc những đặc điểm này để xây dựng phương pháp tiếp cận phù hợp, vừa nghiêm khắc vừa bao dung, giúp các em vượt qua khó khăn và hình thành phẩm chất tốt.

II. Thực trạng và thách thức trong quản lý giáo dục đạo đức Cần Thơ

Việc phân tích thực trạng giáo dục đạo đức tại các trung tâm GDNN-GDTX ở Cần Thơ cho thấy một bức tranh đa chiều. Luận văn đã chỉ ra rằng, bên cạnh những nỗ lực đáng ghi nhận của các nhà trường trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và thách thức. Một bộ phận học sinh có biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, thường xuyên vi phạm nội quy, có hành vi vô lễ với giáo viên. Thực trạng quản lý cho thấy công tác lập kế hoạch đôi khi còn mang tính hình thức, chưa bám sát thực tế. Sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục như giáo viên chủ nhiệm, Đoàn Thanh niên, gia đình và xã hội chưa thực sự chặt chẽ và đồng bộ. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh rất đa dạng, bao gồm cả yếu tố khách quan từ môi trường xã hội, mặt trái của kinh tế thị trường và yếu tố chủ quan từ chính nội tại nhà trường. Nhiều gia đình phó mặc việc giáo dục con cái cho nhà trường, trong khi môi trường xã hội lại tiềm ẩn nhiều tác động tiêu cực. Để nâng cao hiệu quả, việc nhận diện đúng và đủ những thách thức này là bước đi tiên quyết, tạo cơ sở để đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp và khả thi.

2.1. Phân tích những yếu tố khách quan từ gia đình và xã hội

Môi trường gia đình và xã hội là hai yếu tố khách quan có tác động sâu sắc đến việc hình thành đạo đức của học sinh. Nghiên cứu cho thấy, nhiều gia đình hiện nay do áp lực kinh tế đã thiếu sự quan tâm sâu sát đến con cái. Cha mẹ ly hôn, sống không gương mẫu hoặc quá nuông chiều đều tạo ra những lỗ hổng trong giáo dục gia đình. Bên cạnh đó, mặt trái của cơ chế thị trường và sự bùng nổ thông tin trên không gian mạng đã đưa những luồng văn hóa độc hại, lối sống thực dụng, ích kỷ xâm nhập vào giới trẻ. Những hiện tượng tiêu cực trong xã hội như bạo lực, gian lận cũng tác động trực tiếp đến nhận thức và hành vi của các em. Vai trò của gia đình và xã hội vì thế cần được đề cao trong việc phối hợp các lực lượng giáo dục để tạo ra một môi trường an toàn, lành mạnh cho sự phát triển nhân cách của học sinh.

2.2. Các hạn chế tồn tại trong công tác quản lý nội bộ nhà trường

Bên cạnh các yếu tố bên ngoài, những hạn chế từ chính công tác quản lý nội bộ của các trung tâm cũng là một rào cản lớn. Thực tế khảo sát cho thấy việc xây dựng kế hoạch giáo dục đôi khi còn chung chung, thiếu tính cụ thể và chưa chú trọng đến đối tượng học sinh cá biệt. Công tác tổ chức các hoạt động ngoại khóa tuy có nhưng hình thức chưa đa dạng, chưa đủ sức hấp dẫn để thu hút học sinh tham gia. Việc kiểm tra, đánh giá hạnh kiểm chủ yếu dựa trên các vi phạm bề nổi mà chưa đi sâu vào việc tìm hiểu nguyên nhân và có biện pháp hỗ trợ kịp thời. Hơn nữa, sự phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn và các tổ chức đoàn thể trong trung tâm còn lỏng lẻo, chưa tạo thành một sức mạnh tổng hợp trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh.

III. 5 Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh GDTX hiệu quả

Để khắc phục những hạn chế và nâng cao chất lượng công tác giáo dục đạo đức, luận văn đã đề xuất 5 biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh một cách hệ thống và toàn diện. Các biện pháp này được xây dựng dựa trên nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu, tính hệ thống, tính thực tiễn và tính khả thi. Trọng tâm của các giải pháp là tăng cường vai trò của công tác kế hoạch hóa, đẩy mạnh tổ chức và chỉ đạo, cải tiến khâu kiểm tra - đánh giá, thắt chặt sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục và xây dựng ý thức tự giác cho học sinh. Việc triển khai đồng bộ các biện pháp này sẽ tạo ra một sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành vi của học sinh tại các trung tâm GDNN-GDTX. Chẳng hạn, một kế hoạch chi tiết, cụ thể sẽ là kim chỉ nam cho mọi hoạt động, trong khi công tác kiểm tra, đánh giá được cải tiến sẽ cung cấp thông tin phản hồi chính xác để điều chỉnh kịp thời. Sự thành công của các biện pháp quản lý hiệu quả này phụ thuộc lớn vào quyết tâm của đội ngũ cán bộ quản lý và sự đồng lòng của tập thể sư phạm, gia đình và toàn xã hội.

3.1. Tăng cường và đổi mới công tác xây dựng kế hoạch giáo dục

Kế hoạch là khâu đầu tiên và quan trọng nhất trong chu trình quản lý. Để xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức hiệu quả, người quản lý cần xuất phát từ việc phân tích sâu sắc thực trạng đạo đức học sinh và điều kiện thực tế của trung tâm. Kế hoạch phải xác định rõ mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức và phân công trách nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, bộ phận. Nội dung cần đa dạng, tích hợp giáo dục đạo đức qua các môn học, hoạt động ngoại khóa, các buổi sinh hoạt chủ đề. Đặc biệt, cần có kế hoạch riêng để giáo dục, giúp đỡ nhóm học sinh cá biệt, hạnh kiểm yếu. Kế hoạch cần được xây dựng theo từng tuần, tháng, học kỳ và cả năm học, đảm bảo tính liên tục và hệ thống, tránh sự chồng chéo hoặc bỏ sót nhiệm vụ.

3.2. Đẩy mạnh công tác tổ chức chỉ đạo hoạt động giáo dục

Một kế hoạch dù hoàn hảo đến đâu cũng sẽ không có giá trị nếu không được tổ chức thực hiện và chỉ đạo quyết liệt. Nhà quản lý cần triển khai kế hoạch đến toàn bộ giáo viên, nhân viên và các tổ chức đoàn thể. Cần thành lập Ban Giáo dục đạo đức để tư vấn và điều phối chung. Việc phân công nhiệm vụ phải rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm. Trong quá trình thực hiện, người quản lý phải thường xuyên theo dõi, đôn đốc, nắm bắt thông tin để có những chỉ đạo kịp thời, điều chỉnh kế hoạch khi cần thiết cho phù hợp với thực tiễn. Sự chỉ đạo sâu sát sẽ tạo ra động lực, phát huy sức mạnh tập thể và đảm bảo các hoạt động giáo dục đạo đức đi đúng hướng, đạt được mục tiêu đề ra.

IV. Hướng dẫn phối hợp các lực lượng giáo dục đạo đức toàn diện

Giáo dục đạo đức là trách nhiệm chung của toàn xã hội, không phải của riêng nhà trường. Do đó, phối hợp các lực lượng giáo dục là một trong những biện pháp quản lý then chốt để tạo nên một môi trường giáo dục đồng bộ và hiệu quả. Luận văn nhấn mạnh sự phối hợp chặt chẽ giữa ba môi trường: nhà trường, gia đình và xã hội. Nhà trường giữ vai trò chủ đạo trong việc định hướng nội dung, phương pháp. Gia đình là nền tảng, cung cấp môi trường sống và những bài học đầu đời. Xã hội, với các tổ chức đoàn thể, chính quyền địa phương, tạo ra môi trường văn hóa lành mạnh và hỗ trợ các hoạt động giáo dục. Việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh chỉ có thể thành công khi có sự chung tay, góp sức của tất cả các lực lượng. Cần xây dựng một cơ chế phối hợp rõ ràng, thường xuyên trao đổi thông tin hai chiều để kịp thời nắm bắt tình hình và xử lý các vấn đề phát sinh. Sự phối hợp này không chỉ giúp quản lý học sinh tốt hơn mà còn tạo ra một mạng lưới an toàn, hỗ trợ sự phát triển nhân cách học sinh một cách bền vững.

4.1. Tối ưu hóa sự phối hợp giữa các lực lượng trong trung tâm

Sự phối hợp nội bộ là nền tảng cho mọi hoạt động. Người quản lý cần xây dựng quy chế phối hợp rõ ràng giữa Ban Giám đốc, giáo viên chủ nhiệm (GVCN), giáo viên bộ môn (GVBM), Đoàn Thanh niên và các nhân viên khác. GVCN là cầu nối chính, nắm bắt sâu sát tình hình lớp. GVBM có trách nhiệm lồng ghép giáo dục đạo đức qua từng bài giảng. Đoàn Thanh niên tổ chức các phong trào thi đua, hoạt động ngoại khóa sôi nổi. Sự phối hợp này cần được thể hiện qua các buổi họp định kỳ, trao đổi thông tin thường xuyên để có cái nhìn toàn diện về từng học sinh, đặc biệt là các em có hoàn cảnh khó khăn hoặc hạnh kiểm yếu, từ đó có biện pháp tác động thống nhất và hiệu quả.

4.2. Xây dựng cơ chế liên kết chặt chẽ giữa nhà trường gia đình xã hội

Để phá vỡ thế bị động, nhà trường cần chủ động xây dựng mối liên kết với gia đình và xã hội. Cần đa dạng hóa các kênh liên lạc với phụ huynh như sổ liên lạc điện tử, các buổi họp phụ huynh theo chuyên đề, các cuộc gặp gỡ trực tiếp. Nhà trường nên chủ động phối hợp với chính quyền địa phương, công an khu vực để quản lý học sinh ngoài giờ học, ngăn chặn các tệ nạn xã hội. Đồng thời, việc huy động các nguồn lực xã hội, các tổ chức khuyến học để hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn cũng là một biện pháp thiết thực. Một cơ chế phối hợp đồng bộ sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp, giúp công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trung tâm GDNN-GDTX đạt được kết quả cao nhất.

V. Bí quyết cải tiến kiểm tra đánh giá trong giáo dục đạo đức

Kiểm tra và đánh giá là chức năng cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng trong chu trình quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh. Nó không chỉ nhằm mục đích xếp loại hạnh kiểm mà còn cung cấp thông tin phản hồi để điều chỉnh hoạt động quản lý và giáo dục. Một hệ thống kiểm tra, đánh giá hiệu quả phải đảm bảo tính khách quan, toàn diện và công bằng. Thay vì chỉ tập trung vào các biểu hiện tiêu cực, cần ghi nhận và biểu dương kịp thời những tiến bộ, dù là nhỏ nhất, của học sinh. Nghiên cứu đề xuất cần cải tiến công tác này theo hướng đa dạng hóa hình thức, từ quan sát, kiểm tra đột xuất việc thực hiện nội quy đến tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, các buổi tọa đàm. Kết quả đánh giá phải được sử dụng làm cơ sở để xây dựng kế hoạch phụ đạo, hỗ trợ cá nhân, đồng thời là tiêu chí quan trọng trong công tác thi đua, khen thưởng. Thông qua việc cải tiến khâu đánh giá, nhà quản lý có thể nắm bắt chính xác hơn hiệu quả của các biện pháp quản lý, từ đó không ngừng hoàn thiện quy trình để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức.

5.1. Các hình thức kiểm tra đánh giá đa dạng và khách quan

Để tránh sự phiến diện, công tác kiểm tra, đánh giá cần kết hợp nhiều hình thức. Ngoài việc theo dõi, ghi nhận của giáo viên chủ nhiệm và giám thị, cần khuyến khích học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau trong tập thể lớp. Việc sử dụng phiếu khảo sát, tổ chức các tình huống giả định để xem cách xử lý của học sinh cũng là những phương pháp hay. Kết quả đánh giá phải dựa trên một hệ thống tiêu chí rõ ràng, công khai, được xây dựng dựa trên nội quy của trung tâm và các chuẩn mực đạo đức xã hội. Sự đa dạng trong phương pháp sẽ giúp có được cái nhìn đa chiều và khách quan hơn về quá trình rèn luyện, phấn đấu của mỗi học sinh.

5.2. Vai trò của khen thưởng và kỷ luật trong điều chỉnh hành vi

Khen thưởng và kỷ luật là hai công cụ quan trọng để điều chỉnh hành vi. Khen thưởng kịp thời những tấm gương người tốt, việc tốt, những học sinh có sự tiến bộ rõ rệt sẽ tạo động lực, khuyến khích các hành vi tích cực. Hình thức khen thưởng cần đa dạng, từ biểu dương trước cờ, ghi nhận trong học bạ đến các phần thưởng vật chất, tinh thần. Ngược lại, kỷ luật phải nghiêm minh, công bằng và mang tính giáo dục. Mọi vi phạm cần được xử lý dứt điểm, đúng quy trình, giúp học sinh nhận ra lỗi sai và có hướng khắc phục. Việc kết hợp hài hòa giữa khen thưởng và kỷ luật sẽ góp phần củng cố nề nếp, kỷ cương và định hướng hành vi của học sinh theo những chuẩn mực đúng đắn.

15/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Cơ sở lý luận vẻ quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học. sinh ở trung tâm GDNN-GDTX. Thực trạng quan lý hoạt đồng giáo dục đạo đức học sinh ở các trung tâm GDNN-GDTX thành phố Cần Thơ.

Biện pháp quản lý hoạt đồng giáo dục đạo đức học sinh & các trung tâm GDNN-GDTX thành phố Cần Thơ. 16 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỌNG GIÁO ĐỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH Ở TRUNG TAM GIAO DUC NGHE NGHIỆP- GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 1,1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn để 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Vấn để giáo dục đạo đức đã xuất hiện tử rất lâu & phương Đông cũng như ở phương Tây.

Ở phương Đông. Không Tứ (551-479 TCN) là nhà triết học nỗi tiếng của Trung Quốc đồng thời là nhà đạo đức học khai sinh Nho giáo. Triết học của ông nhắn mạnh sự tu dưỡng đức hạnh cá nhân và cai trị bằng đạo đức: “Tu thân, tễ gia. trị quốc, bình thiên hạ", đưa ra các quy tắc trong các mỗi quan hệ xã hội.

Không Tử để cao mỗi quan hệ gia đình, thờ cúng tổ tiên, trẻ kính trọng già, vợ tôn trọng chồng, và gia đình là căn bản cho một xã hội lý tưởng. Sự giáo hóa của Khổng Tứ chủ yếu là làm sao cho sáng tỏ cái đức sáng của con người, chớ không đặt trọng tâm vào sự truyền thụ kiến thức. Đây chính là quan niệm có tính hệ thống về phương pháp giáo dục, tâm lý giáo dục của ông nhằm phát huy tính nãng động, tích cực và sáng tạo của người học. Nội dung và mục tiêu chủ yếu của giáo dục Nho giáo được thể hiện trong bộ sách Tứ thư và Ngũ kinh.

Nhưng cụ thể và tập trung nhất là nêu trong Luận ngữ (sách ghi lời nói, việc làm của Không Tứ và của một số môn đỏ), nội dung hướng tới bồi dưỡng con người có được đức nhdn, thành người “quân rử" có đủ phẩm cách và năng lực để thi hanh “dao lớn” theo tôn chi của Nho gia. Khổng Từ quan niệm sự hiểu biết không phải là sinh ra đã có sẵn mà phải được tích lũy qua quá trình học tập, rèn luyện khá công phu. Các đức tính như nhân, trí, tín, trực, dũng, cương cần phải học tập rèn luyện thì mới có 7 thể phát triển đúng hướng. vận dụng hoàn hảo, có thể nói Khổng Tứ chủ trương coi việc rền luyện đạo đức là ưu tiên số một.

Ở phương Tây, nhà triết hoc Socrates (470-399 TCN) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau. Có được đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết, do vay chi sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức. Aristoste (384-322 TCN) cho rằng không phái hy vọng vào Thượng để áp đặt để có người công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức. Ảngghen (1820 - 1895), đã đánh giá lại toàn bộ tư tưởng đạo đức đã có tử xưa đến nay, tông kết và đưa ra những luận điểm khoa học của mình vẻ đạo đức.

Các Ngài đã chỉ ra sự tất yếu xuất hiện của một kiểu đạo đức mới trong lịch sử - đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân. Ẩngghen, đây là nền đạo đức đang tiêu biểu hiện tại, biểu hiện cho lợi ích của tương lai, tức là đạo đức vô sản. Luận điểm này đã đất cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cửu quản lý quá trình giáo dục phẩm chất. nhân cách đảm báo cho con người phát triển một cách toàn diện.

'Vladimir Lénin (1870 — 1924) khẳng định sự tắt yêu ra đời của luân lý cộng sản và đạo đức công sản. Trong đó Viadimir Lênin đã chỉ ra thực chất cách mạng của nội dung đạo đức mới, đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phẩn đoàn kết tắt cả những người lao động chung quanh gi: cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những ngư Wg san, Đây là cơ sở khoa học để xây dựng, phát triển và quản lý nền giáo dục mới - nên giáo dục xã hội chủ nghĩa. Các nghiên cửu ở trong nước Ở Việt Nam, ông cha ta từ xa xưa đã luôn để cao việc giáo dục đạo đức con người thể n trong câu “Tiên học lễ, hậu học văn”. Đây là phương cham 18 giáo dục của Nho gia.

Nguyên tắc giáo dục chính là sự phối hợp giữa gieo mẫm đạo đức, truyền dạy chữ nghĩa tri thức, dé cao đạo đức và GDĐĐ. Chủ tịch Hỗ Chí Minh (1890 ~ 1969), là một trong những người quan tâm nhiễu nhất đến công tác giáo dục đạo đức cho mọi người. Người đã từng. dạy: “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả đức lẫn tài, trong đó đức phải là gốc, đức phải có trước tài.

Đức là đạo đức cách mạng, "Nếu thiểu đạo đức, con người sẽ không phải con người bình thưởng và cuộc sống xã hội sẽ không phải là cuộc sống xã hội bình thường. Đạo đức và tài năng là hai nị dung không thể thiểu trong bỗi dưỡng giáo dục, trong đó đạo đức là yếu tổ „ đạo đức cách mạng là trung với nước ếu với dân; cần kiệm liêm chính, chí công vô từ; yêu thương con người; có tình thần quốc tẾ trong sáng. Người nói * Cũng như sông phải có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo, người cách mạng phải có đức, không có đức thi dù có tài giỏi mắy cũng không lãnh đạo được nhãn dân”.

Trong Di chúc, đối với thanh niên, Người căn dặn: “Dang can phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành người kế thừa vừa hồng vừa chuyên”, Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hỗ Chí Minh về đạo đức, về quản lý, về giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là cơ sở khoa học, là những luận điểm sư phạm để Đảng và Nhà nước Việt Nam để ra chủ trương, đường lỗi. chính sách quản lý nhằm phát triển giáo dục, coi Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức là nhiệm vụ cẩn thiết và cắp bách. Tác giá Phạm Minh Hạc đã nêu lên các định hướng giá trị đạo đức con người Việt Nam trong thời kì CNH, HĐH đất nước, Từ sự phân tích khoa học thực trạng đạo đức của học sinh, sinh viên lên nay, ông đã nêu 6 giải pháp ứ tắm vĩ mô về giáo dục — đào tạo con người Việt Nam theo định hướng: “Ti 19 tục đổi mới nội dung, hình thức GDĐĐ trong các trưởng học; củng cố ý tướng. giáo dục ứ gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trường trong việc giáo dục đạo đức cho mọi người: kết hợp chặt chẽ với việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp của các cơ quan thi hành pháp luật; tổ chức thông nhất các phong trào thí đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo đức, lỗi sống cho toàn dân, trước hết là cho cán bộ Đảng viên, cho thấy trò các trường học; xây dựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về GDĐĐ; nẵng cao nhân thức cho mọi ngư Tác giá Trần Hậu Kiểm trong tác phẩm “Đạo đức học” đã khái quát hoá những phạm trù đạo đức cơ bản, đó là lẽ sống, hạnh phúc, danh dự, nghĩa vụ và lương tâm, thiện và ác,.Những phạm trù này phản ánh nội dung khách quan cúa đời sống xã hội, nó có liên hệ hữu cơ với tình cảm con người trong mỗi quan hệ giữa con người và đời sống xã hội.

Trong giáo trình “Đạo đức học” dành cho giáo viên THCS hệ cao đẳng sư phạm. tác giả Phạm Khắc Chương và Hà Nhật Thăng đã nhắn mạnh nội dung giáng dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên hiện nay * là đạo đức trong gia đình, đạo đức vẻ tình ban, đạo đức về tình yêu, đạo đức về học tập, đạo đức về giao tiếp” Tác giả Đặng Vũ Hoạt - trong tác phẩm “Những vấn đề giáo dục học” nghiên cứu vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong quá trình GDĐĐ và đưa ra một số định hướng trong việc đổi mới nội dung và cải tiến phương pháp GDDD cho hoe sinh trong nhà trường phỏ thông, Tác giá Phạm Khắc Chương. trường đại học Sư phạm Hà Nội nghiên cứu một số vấn để GDĐĐ ở trường THPT, trong đó có cuỗn “èn luyện ý' thức công dân " (2002), "Đạo đức học” (2001, 2007). Đăng Quốc Bảo với tác phẩm: “Một số ý kiến vẻ nhân cách thể hệ trẻ, thanh niên, sinh viên ".

20 Những công trình nghiên cứu cúa các tắc giả nói trên đã chi ra những lý luận và định hướng cơ bản về đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh. Gần đây có một số tác giả chọn vẫn để giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh làm để tài luận văn thạc sĩ như: Nguyễn Thị Mỹ Trang (2010): “ Phối hợp quản lý giáo dục đạo đức của Đoàn Thanh niên công sản Hồ Chỉ Minh và nhà trưởng đổi với học sinh Trung học phổ thông thành phố Hỗ Chí Minh ": Lê Thị Ngọc Thảo (2011):ực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trang học phổ thông ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bén Tre”; Mai Hương (201 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường trung học phổ thông huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu câu đổi mới giáo đục "; Nguyễn Thị Thúy Oanh (2016): “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức. hoc sinh trung học cơ sở quận Ninh Kiều, thành phố Cẩn Thơ". Nhìn chung, các để tài trên đây cho thấy, các tác giá đã nghiên cứu tập trung vào việc quản lý hoạt động GDĐĐ HS đối với bậc học THCS và THPT.

Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý hoạt đông GDĐĐ HS đổi với ngành học GDTX. Hay nói cách khác, cho đến hiện tại chưa có tác giả nào nghiên cứu về quán lý hoạt động GDĐĐ HS ở các trung tâm GDNN- GDTX tại thành phổ Cần Thơ. Một số khái niệm cơ bản của để tài 1. Quần lý và chức năng quản lý 1.

Quan ly “Từ khi con người hình thành xã hội có sự phân công hợp tác trong lao động thì bắt đầu xuất hiện sự quản lý “Tính chất của việc quản lý thay đối và phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người, nhẩm bảo đảm cho sự tổn tại và phát triển của xã 21 Có khá nhiều khái niệm đề cập đến thuật ngữ quản lý.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ