ĐẶT VẤN ĐỀ Giới tính có vai trò quyết định cân bằng sinh thái của cộng đồng trong các mối liên hệ xã hội và kinh tế. Tỷ số giới tính là một chỉ số nhân khẩu học phản ánh cơ cấu giới tính của một quần thể dân số, trong đó giới tính khi sinh đƣợc các nhà nhân khẩu học quan tâm nhiều nhất. Tỷ số này thông thƣờng là 104-106 bé trai/100 bé gái. Bất kỳ một sự thay đổi đáng kể nào của tỷ số này lệch khỏi mức sinh học bình thƣờng đều phản ánh những can thiệp có chủ định, ở các mức độ khác nhau đến sự cân bằng tự nhiên này (1).
Theo Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) năm 2020, Việt Nam là một trong những nƣớc đang phát triển, đông dân cƣ, hiện đang đƣợc xếp thứ 15 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á với dân số 97,58 triệu ngƣời. Dân số Việt Nam đang gia tăng kèm theo một số biến động, trong đó vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh đang là vấn đề quan tâm của xã hội. Tình trạng lựa chọn giới tính có thể nhìn nhận trực tiếp qua tỷ số giới tính khi sinh, tỷ số này của Việt Nam hiện cao thứ ba trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ (2,3). Cũng theo thống kê hiện tại năm 2021, Việt Nam đang là một trong bốn quốc gia có tỷ số giới tính khi sinh cao nhất trên Thế giới, sau Azerbaijan, Trung Quốc và Ấn Độ (4).
Tình trạng mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam bắt đầu đƣợc ghi nhận vào năm 2004 và từ năm 2005 đã gia tăng một cách nhanh chóng. Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019, tỷ số này ở ngƣỡng 111,5 bé trai/ 100 bé gái, tuy có giảm so với năm 2018 (114,8 bé trai/100 bé gái) nhƣng vẫn ở mức cao. Theo báo cáo Tình trạng Dân số Thế giới năm 2020, tỷ số giới tính khi sinh năm 2020 là 112,1 bé trai/ 100 bé gái, ƣớc tính mỗi năm Việt Nam sẽ thiếu hụt 40. Mất cân bằng giới tính khi sinh phản ánh tình trạng phân biệt đối xử với phụ nữ và bé gái ngay từ trƣớc khi đƣợc sinh ra.
Mất cân bằng giới tính khi sinh chịu ảnh hƣởng bởi nhiều yếu tố nhƣ tâm lý yêu thích con trai có nguồn gốc sâu xa từ văn hóa truyền thống Nho giáo và chế độ gia đình phụ hệ, cùng những chuẩn mực xã hội đề cao giá trị của con trai hơn giá trị của con gái; khả năng tiếp cận đến các dịch vụ xác định và lựa chọn giới tính thai nhi; tác động của mức sinh giảm với số con trung bình giảm từ 3,80 con/phụ nữ vào năm 1989 xuống còn 2,09 con/phụ nữ 2 vào năm 2019 (1,6,7). Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh này chính là sở thích sinh con trai đã có nguồn gốc sâu xa trong tƣ tƣởng của ngƣời Việt Nam chúng ta. Nếu tình trạng này tiếp tục diễn ra trong những năm tới, bất bình đẳng giới sẽ càng gia tăng và sẽ gây nên những bất ổn về xã hội nhƣ nhiều thanh niên sẽ không có khả năng kết hôn, các tệ nạn xã hội sẽ gia tăng, nguy cơ bạo lực về giới (5). Năm 2010, nghiên cứu của Khuất Thu Hồng về sở thích sinh con trai ở các cặp vợ chồng đƣa ra kết quả, chế độ phụ hệ củng cố và làm tăng tâm lý ƣa thích con trai, áp lực vừa có ít con vừa phải có con trai dẫn đến việc lựa chọn giới tính, góp phần làm tăng bất bình đẳng giới trong xã hội (8).
Năm 2013, Trần Thị Xuân Thúy nghiên cứu về sở thích sinh con trai tại tỉnh Quảng Ngãi. Kết quả cho biết có 74,4% phụ nữ thích sinh con trai, trong đó nguyên nhân chủ yếu thích sinh con trai là muốn có đầy đủ cả con trai và con gái. Sở thích sinh con trai của phụ nữ có mối liên quan đến số con trai hiện có của họ. Tỷ lệ thích sinh con trai ở nhóm những phụ nữ sống chung với gia đình nội, ngoại cũng cao hơn so với nhóm phụ nữ sống riêng (9).
Năm 2014, nghiên cứu của Phan Đình Nhân về sở thích sinh con trai của các cặp vợ chồng ở huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam cho kết quả, có 89,7% cặp vợ chồng có sở thích sinh con trai và nguyên nhân chủ yếu là vì họ muốn có ngƣời nối dõi. Nghiên cứu cũng cho thấy nhóm có áp lực cộng đồng có sở thích sinh con trai chiếm tỷ lệ cao hơn so với nhóm không chịu áp lực cộng đồng (10). Tại Quảng Bình, tỷ số giới tính khi sinh của tỉnh những năm qua đang ở mức báo động: năm 2016 là 115 bé trai/100 bé gái, năm 2017 là 127 bé trai/100 bé gái, năm 2018 là 110 bé trai/100 bé gái, năm 2019 là 111 bé trai/100 bé gái. Một số huyện trong tỉnh đang ở mức báo động nhƣ huyện Quảng Ninh 115/100, thị xã Ba Đồn 119/100, thành phố Đồng Hới 120 /100, huyện Minh Hóa 120/100.
Thực tế trên cho thấy sở thích sinh con trai của các cặp vợ chồng đang là vấn đề đáng quan tâm và nó tác động đến sự mất cân bằng giới tính sinh học (11,12). Để trả lời cho câu hỏi: Vì sao các cặp vợ chồng có sở thích sinh con trai?, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Sở thích sinh con trai và một số yếu tố liên quan ở những cặp vợ chồng sinh con năm 2021 tại thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả sở thích sinh con trai ở những cặp vợ chồng đã sinh con trong năm 2021 tại thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
Phân tích một số yếu tố liên quan đến sở thích sinh con trai ở những cặp vợ chồng đã sinh con trong năm 2021 tại thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Giới tính Giới tính là một khái niệm khoa học ra đời từ môn sinh học, chỉ sự khác biệt giữa hai cá thể nam và nữ về mặt sinh học.
Sự khác biệt này chủ yếu liên quan tới quá trình sinh đẻ và di truyền nòi giống. Đối với mỗi con ngƣời, giới tính là đặc trƣng không thay đổi (trừ một số ngoại lệ) (13). Thực tế giới tính đƣợc quyết định ngay trong quá trình thụ thai. Sau đó trong quá trình phát triển của thai nhi, các biểu hiện về sự khác biệt này dần đƣợc hình thành.
Dù ở mức độ chƣa hoàn chỉnh song có thể nói khi còn trong bụng mẹ, thai nhi đã mang đặc điểm giới tính của mình. Ngày nay, nhờ kỹ thuật hiện đại nhƣ siêu âm hay chọc dò màng ối, ngƣời ta có thể biết đƣợc giới tính của thai nhi từ rất sớm. Siêu âm sẽ giúp nhìn thấy hình ảnh cấu tạo cơ quan sinh dục của thai nhi từ khoản sau tuần thứ 14 của thai kỳ. Thủ thuật chọc dò màng ối và phân tích các chỉ số sinh học giúp xác định đƣợc các cấu trúc di truyền quy định giới tính của thai nhi ngay từ những tuần đầu mang thai (14).
Giới Khái niệm giới chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội. Với những khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ, xã hội có những quy định, chuẩn mực thích hợp đối với nam giới và phụ nữ. Các đặc trƣng giới không bất biến, nó có thể thay đổi trong quan niệm và nhận thức của xã hội (13). Tỷ số giới tính Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), tỷ số giới tính đƣợc xác định là số bé trai đƣợc sinh ra trên 100 bé gái, là một chỉ số nhân khẩu học (6).
Chỉ số này thể hiện cơ cấu giới tính của một quần thể dân số nhƣng lại nói lên nhiều điều về bình đẳng giới, những thách thức và trở ngại mà những nhà hoạch định chính sách dân số, xã hội sẽ gặp phải (1). Theo quy luật sinh sản tự nhiên, khi thống kê trên một cộng đồng dân cƣ thì tỷ 5 số giới tính khi sinh thƣờng giao động trong khoảng 104-106 bé trai/100 bé gái (6). Tỷ số giới tính khi sinh Tỷ số giới tính khi sinh (SBR): là số trẻ trai sinh ra so với 100 trẻ gái trong một khoảng thời gian nhất định, thƣờng là một năm tại một quốc gia, một vùng hay một tỉnh. Số liệu này có thể thu thập từ 3 nguồn :một là thống kê số sinh từ các cuộc điều tra, từ sổ sách, biểu mẫu ghi chép của cán bộ dân số cơ sở ; hai là thống kê số sinh tại cơ sở y tế; ba là thống kê từ việc khai sinh cho trẻ mới sinh tại cơ quan tƣ pháp.
Tuy nhiên có rất nhiều sai sót trong việc thống kê có thể xảy ra, ví dụ nhƣ mức chết trẻ sơ sinh có thể bị ảnh hƣởng đến các số liệu kê khai vì nhiều gia đình không muốn kê khai hay đề cập đến đứa con đƣợc sinh ra nhƣng sau đó không may mắn lại chết; số liệu tổng hợp tại cơ sở y tế có thể trùng lặp do bà mẹ có hồ sơ quản lý thai nghén tại một cơ sở y tế (trạm y tế) nhƣng lại sinh con tại một cơ sở y tế khác (bệnh viện huyện. Mất cân bằng giới tính khi sinh Mất cân bằng giới tính khi sinh là số trẻ trai sinh ra còn sống cao hơn hoặc thấp hơn ngƣỡng bình thƣờng so với 100 trẻ gái. Mất cân bằng giới tính khi sinh xảy ra khi tỷ số giới tính trẻ trai khi sinh lớn hơn 106 hoặc nhỏ hơn 103 so với 100 trẻ gái (6). Một số biện pháp phổ biến đã đƣợc nhiều cặp vợ chồng áp dụng nhƣ thực hiện chế độ dinh dƣỡng, thuốc bổ, tính ngày rụng trứng để thụ thai với mong muốn giới tính thai nhi sẽ là nam, siêu âm xác định sớm giới tính thai nhi và nạo phá thai nếu nhƣ thai nhi có giới tính không mong muốn.
Để nghiên cứu chi tiết hơn hiện trạng và sự thay đổi tỷ số giới tính khi sinh, ngƣời ta quan tâm đến các thông tin về giới tính của trẻ em theo thứ tự sinh và số con trai và con gái đã sinh trƣớc đó. Nhìn chung nƣớc ta, tỷ số giới tính khi sinh của trẻ đầu lòng khá cao và ở tất cả các thời kỳ, nó đều cao hơn giá trị trung bình, tỷ số giới tính khi sinh của những đứa con thứ hai đều có giá trị thấp nhất, sau đó giá trị này tăng dần theo lần sinh thứ 3 và thứ 4 (16). THỰC TRẠNG MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1.