mở đầu một giai đoạn lịch sử chịu ảnh hưởng tư tưởng, văn hoá chữ Hán của người Việt. Từ thời Triệu Đà, bộ máy thống trị và tư tưởng Hán hoá chưa thật sâu đậm (theo sử sách ghi lại, giai đoạn này chỉ có vài quan sứ trông coi quận Cửu Chân và Giao Chỉ). Trên thực tế thì người Việt vẫn có thực quyền cai trị (trường hợp Triệu Đà vẫn sử dụng Lạc tướng) nhưng càng về sau, đặc biệt từ sau thời kì bị Đông Hán xâm lược, thì công cuộc Hán hoá mới được triển khai khắp các miền. Sau khi khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, Mã Viện đã đưa toàn bộ quyền cai trị vào tay người Hán.
Như vậy, chữ Hán đã có quá trình rất dài xâm nhập vào đời sống người Việt nhưng về cơ bản là dựa vào những biến động lớn về mặt chính trị. ○ b Hệ quả di dân Theo quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn, vấn đề di dân của người Hán thời cổ trung đại đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá chữ Hán. Không thể thống kê các đợt di dân từ phương Bắc sang khu vực Giao Chỉ nhưng có thể nói, việc sống trà trộn với người Việt và giao lưu lẫn nhau giữa hai nền văn hoá đã khiến cho chữ Hán sớm đi vào quảng đại quần chúng. Đáng chú ý là hiện tượng “Việt hoá” những người Hán di dân, tạo ra một lớp văn hoá giao lưu bên cạnh nền văn hoá bản địa và văn hoá ngoại lai.
Tất cả những tình hình trên đây tất yếu phải dẫn đến sự tiếp xúc chặt chẽ, lâu dài giữa hai ngôn ngữ Hán và Việt. ○ c Quan hệ giữa trí thức Việt và tầng lớp quan lại người Hán 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một trong những nhân tố đặc biệt quan trọng ảnh hưởng đến quá trình tiếp xúc chữ Hán của người Việt thời cổ trung đại là việc tiếp nhận và truyền bá chữ Hán của chính những trí thức người Việt. Sự xuất hiện của Triệu Đà trong lịch sử của người Việt đánh dấu sự chuyển biến lớn lao của tầng lớp quý tộc Âu Lạc, khiến họ buộc phải tiếp thu và chịu ảnh hưởng những giá trị, ảnh hưởng của Trung Quốc. Nguyễn Tài Cẩn nhận xét: “Chính cơ sở kinh tế xã hội này đã tạo điều kiện cho việc dễ dàng tiếp thu nền văn hóa Hán, làm cho ảnh hưởng của nền văn hóa này càng ngày càng thấm sâu vào xã hội Việt Nam, thúc đẩy xã hội Việt Nam lại càng đi nhanh hơn vào con đường phong kiến hóa.
Lực lượng góp phần “ đắc lực” nhất cho quá trình “Hán hóa” này, trước hết phải kể đến bộ máy thống trị do quan lại Trung Quốc nắm, và tầng lớp đông đảo các kiều nhân người Hán, trong đó có một bộ phận rất có uy thế. Nhưng càng về sau, vai trò của tầng lớp phong kiến, tầng lớp quyền quí Việt Nam cũng dần dần trở thành một vai trò không thể không kể đến.”1 Nhà nghiên cứu Trương Hữu Quýnh, qua cứ liệu lịch sử, cho rằng chữ Hán theo Nho giáo truyền vào Việt Nam từ thời Tây Hán (111 trước CN). Khi đó, hệ thống trường học dạy chữ Hán tại Giao Chỉ đã xuất hiện. Một số tư liệu lịch sử cũng ghi chép rằng Tích Quang (Thái thú Giao Châu và Nhâm Diên (Thái thú Cửu Chân) được xem là hai vị quan đặt nền móng cho việc đồng hoá người Việt.
Từ thời Mã Viện trở về sau, hiện tượng “trí thức người Việt” được đào tạo theo hướng học thức nhà Hán bắt đầu xuất hiện nhiều hơn (như Trương Trọng đời Hán Minh Đế, Lý Tiến làm đến Thái thú, Lý Cầm làm đến Tư lệ hiệu 1 Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nguyễn Tài Cẩn, Nxb Khoa học xã hội, 1979, trang 35. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hiện tượng này cho thấy mức độ tiếp thu và hoà nhập văn hoá, học vấn của người Việt đã có truyền thống và được minh chứng bằng thực tế lịch sử. Đặc biệt là hiện tượng Sĩ Nhiếp, một nhân vật “ngoại lai” được phong là “Nam giao học tổ”, được tôn vinh như một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình truyền bá chữ Hán vào Việt Nam.
Cùng với sự vươn lên của tầng lớp phong kiến Việt Nam vào thế kỉ thứ VII, VIII, chế độ khoa cử theo người Hán cũng cho phép người Việt tham gia nhưng có phần hạn chế (mặc dù sử cũ vẫn ghi nhận có trường hợp người Việt đỗ cả tiến sĩ, làm đến tể tướng). Có thể mượn lời Nguyễn Tài Cẩn như sau: “… đến thời kỳ này, nền văn hóa Hán nói chung, nền ngôn ngữ văn tự Hán nói riêng, đã có được một ảnh hưởng nhất định trên địa bàn Việt Nam, nhất là ở những nơi trung tâm của chính quyền đô hộ. Và đến thời kỳ này, trong giai cấp phong kiến Việt Nam cũng đã xuất hiện một tầng lớp khá đông đảo, am hiểu Hán học, và thông qua Hán học nắm được cả Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo. Chính đây là một trong những lực lượng sau khi giành được độc lập, đã ra sức bảo vệ, duy là những gì là tiếp thu được trước đó về mặt văn hóa, nhất là về mặt ngôn ngữ, văn tự và đã góp phần đắc lực trong việc củng cố, tuyên truyền cho cái vai trò của văn ngôn và chữ Hán.
Đặc điểm từ Hán- Việt 1. Một số khái niệm liên quan đến từ Hán Việt 2 Nguyễn Tài Cẩn, sđd, trang 37. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tiếng Hán trung cổ: Phân biệt với tiếng Hán thượng cổ thường có trong văn bản Giáp cốt văn. Tiếng Hán trung cổ được hình thành sau thuyết về “Thiết vận” đời nhà Tấn.
- Từ Hán Việt: Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học của Nguyễn Như Ý (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996) định nghĩa là “Từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán, đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt, còn gọi là từ Việt gốc Hán”. - Từ Việt gốc Hán: theo Đặng Đức Siêu, không phải toàn bộ từ Việt gốc Hán được xem là từ Hán Việt mà chỉ có loại từ Việt gốc Hán đọc theo âm Hán Việt mới được gọi là từ Hán Việt. - Từ Hán đọc theo âm Hán Việt: là loại từ khác với từ Hán Việt và từ Việt gốc Hán nêu trên. Đặc điểm cơ bản - Nguồn gốc: Như phần lịch sử vấn đề tôi đã nêu, có nhiều thuyết về quá trình hình thành từ Hán Việt nói chung.
Trong công trình này, tôi chọn hướng tiếp cận của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn là cách đọc Hán Việt được xác định là xuất hiện vào đời nhà Đường, khoảng thế kỉ thứ 8. - Cách kết hợp phong phú từ gốc Hán dưới nhiều hình thức như: giữ nguyên nghĩa chữ Hán, thay đổi nghĩa chữ Hán, ghép các thành tố chữ Hán theo kiểu cấu trúc tiếng Việt, du nhập từ Hán Nhật theo cách phát âm của người Việt,… - Số lượng từ Hán Việt trong tiếng Việt hiện đại: trải qua nhiều đánh giá và thống kê khác nhau, hiện nay có 2 quan điểm: một là lượng từ vựng 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hán Việt chiếm đến 70% lượng từ tiếng Việt (cứ liệu thống kê đầu thế kỉ XX của H. Maspero) ; hai là lượng từ vựng Hán Việt chỉ hiếm khoảng trên 30% lượng từ tiếng Việt (cứ liệu thống kê trên 5 cuốn tự điển mới nhất về tiếng Việt của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đương đại tại Việt Nam). Trước thực tiễn nghiên cứu hiện nay, tôi không chọn chính xác xu hướng nào vì báo cáo tốt nghiệp của tôi không kết luận vấn đề số lượng từ Hán Việt, mà tôi chỉ nêu một số trường hợp tiêu biểu về cách hiểu từ Hán Việt so sánh với từ Hán Nhật qua một số tiêu chí ban đầu.
Lịch sử từ Hán- Nhật Người ta ước tính rằng lần đầu tiên những người nói tiếng Nhật bắt gặp chữ Hán là vào khoảng thế kỷ thứ 1, dựa trên tem vàng (được trích từ Shigajima, quận Fukuoka) và đồng xu (được khai quật từ địa điểm Shigenodan ở Nagasaki). Cả hai đều được sản xuất tại lục địa Trung Quốc, và con dấu Trung Quốc, 漢 委奴国王(Kan no wa no na no ko ku ou in)được viết trên con dấu vàng, và 貸泉(Ka sen) Cảnh được viết trên đồng xu. Trước khi giới thiệu chữ Hán, không có một văn kiện chính thức nào ở Nhật Bản. Vì thế người qua người truyền nhau ghi nhớ những huyền thoại và truyền thuyết và nói chúng bằng lời nói.
Người ta cho rằng Kanji được giới thiệu đến Nhật Bản trong thời kỳ Yayoi vào nửa sau của thế kỷ thứ 4. Một chữ Hán được viết trên một đồ gốm được cho là đã được khai quật ở Nhật Bản vào thế kỷ thứ 3, nhưng không rõ liệu chữ Hán có được người dân xác nhận có chính xác vào thời kỳ đó hay không. Vào khoảng thế kỷ thứ 5, tên địa danh và tên các nhân của Nhật Bản bắt 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đầu được viết bằng chữ Hán. Cụ thể như trên thanh kiếm sắt và gương bằng đồng được sản xuất tại Nhật Bản có khắc chữ Hán.
Tên của những thanh kiếm sắt được khai quật từ Inariyama Kofun (Thành phố Gyoda, tỉnh Saitama) được khắc tên của Wow Wowake và và Oh Oh, và Oh Siki. Tên cá nhân và tên địa danh được viết bằng chữ Hán của Trung Quốc trên dòng chữ của thanh kiếm sắt được khai quật từ Eda Funayama Kofun (Wasui-cho, Tamana-gun, tỉnh Kumamoto) và gương đồng từ đền Sumida Hachimangu (thành phố Hashimoto, tỉnh Wakayama). Tuy nhiên, có khả năng cao là đã có người ngoại lai tham gia vào quá trình chế tác sản phẩm này. Mãi đến khoảng thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 7, người nói tiếng Nhật có khả năng đọc chữ Hán (Kanji) mới bắt đầu tăng lên.
Tại Nhật Bản, từ thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 7, Phật giáo và Đạo giáo bắt đầu được giới thiệu từ Trung Quốc đại lục và Bán đảo Triều Tiên. Để hiểu rõ hơn về Phật giáo và Đạo giáo này người Nhật tìm đọc các cuốn sách viết bằng chữ Hán Trung Quốc là việc cần thiết. Vào thế kỷ thứ 7, nhóm xóa mù chữ đã mở rộng, bao gồm cả những du học sinh trở về và trong các ký tức xá ở các trường đại học. Kiến thức về chữ Hán dần được lan tỏa rộng rãi.
Phật giáo phát triển trong thời kỳ Nara.