CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái niệm thuật ngữ 1. Quan niệm về thuật ngữ trên thế giới Thuật ngữ ra đời rất sớm từ những châu lục có sự phát triển về khoa học kỹ thuật vượt bậc trên thế giới như châu Âu, châu Mỹ. Nhưng mãi đến tận thế kỉ XX, thuật ngữ mới được xem như là một ngành khoa học để nghiên cứu.
Hiện nay, cùng với sự phát triển không ngừng của các ngành khoa học kỹ thuật, các thuật ngữ cũng được hình thành và phát triển nhanh chóng. Sự hình thành và phát triển các thuật ngữ mới này thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học trong nước và trên thế giới, nhằm làm cho khái niệm “thuật ngữ” ngày càng đầy đủ và chính xác. Gerd (1978) đã viết rằng: “Thuật ngữ là từ mà một định nghĩa nào đó kèm theo nó một cách nhân tạo, có ý thức. Định nghĩa này có liên quan đến một khái niệm khoa học nào đó” Các nhà ngôn ngữ học Erhard Oeser và Gerhard Budin (2003) cho rằng: “Thuật ngữ là một tập hợp các khái niệm, trong mỗi một lĩnh vực chuyên ngành đều có các mô hình cấu trúc đại diện cho tập hợp các khái niệm.
Kiến thức khoa học được sắp xếp thành các cấu trúc khái niệm, các phương tiện biểu đạt ngôn ngữ và kí hiệu tương ứng được sử dụng trong văn phong khoa học để thông tin với người khác về kết quả khoa học mới và bình luận các ngôn bản khác. Như vậy, thuật ngữ không phải là những đơn vị biệt lập về mặt ngữ nghĩa, và thế giới chuyên ngành không phải được tạo ra bởi những những thuật ngữ biệt lập. Khi người nói quen thuộc hơn với một bộ phận đặc biệt của thế giới thực, họ biến kiến thức của họ thành cấu trúc khái niệm, trong đó, mỗi khái niệm có một vị trí cụ thể và có một giá trị chức năng. Do đó, thuật ngữ là nền tảng cho cấu trúc của vốn kiến thức chuyên ngành được phân theo chủ đề.
Những cấu trúc khái niệm biến thiên này phản ánh kiến thức mà một trong số các nhà chuyên môn có về một lĩnh vực chuyên ngành.” 4 Theo nhà ngôn ngữ học người Mỹ Sager Juan (1990) “ Thuật ngữ phải được hình thành một cách hệ thống, chú trọng tới đặc tính về mặt hình thái, cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của ngôn ngữ tạo thành chúng. Thuật ngữ phải tuân theo các quy ước chung về hành vi, chữ viết và phát âm của ngôn ngữ tạo thành chúng. Một khi thuật ngữ được chấp nhận và sử dụng rộng rãi thì nó không thể bị thay đổi nếu như không có lý do bắt buộc và sự khẳng định chắc chắn rằng thuật ngữ mới thay thế nó sẽ đảm đương hoàn toàn vị trí của nó và sẽ được nhanh chóng chấp nhận. Nếu thuật ngữ mới sẽ truyền đạt được phần nào đó của thuật ngữ đang dùng thì sẽ gây ra nhầm lẫn và trong trường hợp đó, cần sử dụng đến khái niệm đồng nghĩa.
Như vậy, mới có thể giới thiệu thuật ngữ mới.” Có thể thấy rằng có khá nhiều định nghĩa về thuật ngữ, qua đó ta có thể rút ra được cái nhìn tổng thể về thuật ngữ. Nghiên cứu về thuật ngữ chính là nghiên cứu khái niệm và hệ thống khái niệm, biểu thị chính xác các khái niệm và định danh các đối tượng sự vật để bảo đảm giao tiếp hiệu quả trong các lĩnh vực chuyên môn. Quan niệm về thuật ngữ trong nước Nghiên cứu về thuật ngữ ở Việt Nam có từ thế kỉ XX. Một trong những định nghĩa đầu tiên của thuật ngữ đó là : “Thuật ngữ hay danh từ khoa học là những từ ngữ biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định” của Hoàng Xuân Hãn trong cuốn “Danh từ khoa học”, xuất bản năm 1942.
Trong “Khái luận ngôn ngữ học” (1966), Nguyễn Văn Tu đã đưa ra khái niệm về thuật ngữ như sau: “Thuật ngữ là từ hoặc nhóm từ dùng trong các ngành khoa học, kỹ thuật, chính trị, ngoại giao, nghệ thuật v. và có một ý nghĩa đặc biệt, biểu thị chính xác các khái niệm và tên các sự vật thuộc ngành nói trên”. Đến năm 1968, ông đưa ra nhận định rõ ràng hơn về khái niệm mà thuật ngữ biểu thị: “Thuật ngữ là những từ và cụm từ cố định để chỉ những khái niệm của một ngành khoa học nào đó, ngành sản xuất hay ngành văn hoá nào đó… Đặc điểm của thuật ngữ là những từ chỉ có một nghĩa, không có từ đồng nghĩa, không có sắc thái tình cảm, có thể có tính chất quốc 5 tế tuỳ từng ngành”. Các nhà nghiên cứu Lưu Văn Lăng, Nguyễn Như Ý (1971) cũng đã đưa ra khái niệm về thuật ngữ: “Thuật ngữ là bộ phận ngôn ngữ (từ vựng) biểu đạt các khái niệm khoa học, tức là thuộc tính của khoa học, kỹ thuật, chính trị, tức là những lĩnh vực của hiện thực xã hội đã được tổ chức một cách có trí tuệ”.
Cùng với những nhà nghiên cứu trên, chúng ta không thể không kể đến các nhà nghiên cứu Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang và Vương Toàn, họ đã viết: “Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ biểu đạt chính xác một khái niệm của một chuyên môn nào đó. Thuật ngữ nằm trong hệ thống từ vựng chung của ngôn ngữ nhưng chỉ tồn tại trong một hệ thống thuật ngữ cụ thể, nghĩa là nó chỉ được dùng trong ngôn ngữ chuyên môn. Toàn bộ các thuật ngữ của một lĩnh vực sản xuất, hoạt động, tri thức tạo nên một lớp từ đặc biệt tạo thành một hệ thống thuật ngữ”. Quan niệm này đã nêu bật được tính chính xác, tính hệ thống của thuật ngữ.
Giáo sư Nguyễn Thiện Giáp (1998) đặt ra định nghĩa tuy ngắn gọn nhưng đầy đủ đặc trưng của thuật ngữ: “Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ. Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định, là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người” Nhìn chung, quan niệm về thuật ngữ của các nhà ngôn ngữ Việt Nam thống nhất với quan niệm của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới. Chúng tôi nhận thức quan niệm về thuật ngữ của G.S Nguyễn Thiện Giáp trong khuôn khổ luận văn này. Những đặc điểm cơ bản của thuật ngữ Tuy có nhiều khái niệm về thuật ngữ nhưng các nhà nghiên cứu đều nêu lên những đặc điểm chung của thuật ngữ.
Những đặc điểm cơ bản của thuật ngữ đó là tính chính xác, tính quốc tế, tính hệ thống. Nguyễn Thiện Giáp chỉ ra trong giáo trình “Từ vựng học tiếng Việt” năm 1985, và sau đó giáo trình này được tái bản năm 1998. Tính chính xác Đặc điểm đầu tiên và quan trọng nhất của thuật ngữ là tính chính xác. Nhằm giúp người đọc người nghe hiểu được chính xác khái niệm của đối tượng khoa học nào, thuật ngữ cần được định nghĩa chính xác khái niệm định nghĩa đó.
Tính chính xác của thuật ngữ còn được nhà nghiên cứu Lưu Văn Lang (1998) đưa ra như sau: “Mức chính xác khoa học của thuật ngữ phải thể hiện đúng nội dung khái niệm khoa học một cách rõ ràng, rành mạch. Một thuật ngữ chính xác tuyệt đối không làm cho người nghe hiểu sai, hoặc nhầm lẫn từ khái niệm này qua khái niệm khác”. Tính hệ thống Thuật ngữ là một bộ phận của ngôn ngữ, chính vì thế thuật ngữ phải nằm trong hệ thống từ vựng chung của một ngôn ngữ. Tính hệ thống của thuật ngữ thể hiện ở cả hai mặt hình thức và nội dung.
Nhà nghiên cứu Lưu Văn Lang (1998) tiếp tục có những ý kiến: “Khi xây dựng hệ thống thuật ngữ, trước khi đặt hệ thống kí hiệu (về hình thức) cần phải xác định cho được hệ thống khái niệm (về nội dung của nó). Không thể tách rời từng khái niệm ra để đặt thuật ngữ, mà phải hình dung, xác định vị trí của nó trong toàn bộ hệ thống khái niệm”. Như vậy, thuật ngữ không thể tách rời biệt lập một mình mà phải được xác định vị trí của nó trong hệ thống khái niệm 3. Tính quốc tế Vốn từ vựng riêng về ngôn ngữ mang sắc thái của dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó, nhưng khoa học là tài sản tri thức chung của nhân loại, vì vậy thuật ngữ phải mang tính quốc tế.
GS Nguyễn Thiện Giáp (1998) đã nói như sau: “Thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc biệt biểu hiện những khái niệm khoa học chung cho những người nói các tiếng khác nhau. Vì vậy, sự thống nhất thuật ngữ giữa các ngôn ngữ là cần thiết và bổ ích. Chính điều này đã tạo nên tính quốc tế của thuật ngữ”. 7 Tính quốc tế của thuật ngữ không những giúp bảo đảm tính chất riêng của thuật ngữ, mà còn bảo đảm cả những tính chất chung của thuật ngữ với những lớp từ vựng khác khi xây dựng thuật ngữ.
Địa danh là gì? 1. Địa danh và chức năng của địa danh Theo PGS.TS Lê Trung Hoa (2006), “Địa danh là những từ hoặc ngữ, được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chánh, các vùng lãnh thổ và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều.” Địa danh là tên gọi của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ nào đó. Do đó, địa danh là đối tượng quan tâm của nhiều lĩnh vực khoa học như lịch sử, địa lý, dân tộc học, văn hóa học, ngôn ngữ học. Như mọi danh từ/danh ngữ chung, địa danh có chức năng định danh sự vật.
Nhưng địa danh còn có một chức năng mà danh từ/danh ngữ chung không có, đó là cá thể hoá đối tượng. Chính nhờ các chức năng này, địa danh trở thành một bộ phận không thể tác rời của cuộc sống xã hội. Trên quan điểm đồng đại, địa danh ra đời trong một hoàn cảnh xã hội riêng biệt, chính vì thế nó phản ánh nhiều mặt khung cảnh xung quanh nó. Những địa danh huyện Giồng Tôm , khu Đầm Sen… cho ta biết địa hình nơi nó chào đời.
Khu Ông Tạ, xóm bà Năm Chanh… thông báo cho chúng ta biết những con người, cây cỏ, cầm thú đã sinh sống, hoạt động trên vùng đất ấy. Các địa danh còn phản ánh tâm tư, nguyện vọng của con người thông qua các tên Hán Việt: An, Bình, Phú… nói lên ước vọng sống thái bình, giàu có, tốt đẹp… của người Việt. Đứng trên quan điểm lịch đại, địa danh có chức năng bảo tồn. Rất nhiều biến cố chính trị, văn hoá, xã hội, ngôn ngữ… được lưu giữ trong địa danh.