mở đầu cuộc thoại chưa xác lập đúng mối quan có thể sẽ được điều chinh nếu cuộc thoại có cơ hội kéo dài, nhưng theo nguyên tắc lịch sự, người tham gia cuộc thoại phải tuân thủ theo những quy tắc nhất định trong hội thoại. Phân loại hô ngữ Xét về cầu tạo, có thể chia hô ngữ thành hai loại: 1. Hô ngữ phi định danh Loại này chỉ gồm tiếng gọi không xác định rõ đối tượng tiếp nhận trong lời gọi Ví dụ + “El”, “Nay!”, “Oil”, “Hu. Hô ngữ định danh Loại này xác định rõ đối tượng tiếp nhận trong lời gọi.
Có thể chia hô ngữ định danh thành hai tiểu loại: a) Hô ngữ định danh một thành phân: Nó chỉ chứa hạt nhân định danh người nhận phát ngôn. Vi du: * Nam! + Côbé! + Anh! b) Hô ngữ định danh hai thành phần Nó gồm hai thành phần: hạt nhân định danh người nhận phát ngôn và thành phần đi kèm. Ví dụ: $ Này bác! ® Lanơi! 1. Kết cấu của hô ngữ 1.
Thành phần đối thể (Thành phần tiếp nhận): Có thé chia thành hai loại: đôi thể là người và đôi thé không phải người. Trong mỗi loại, có thể chia ra thành những tiểu loại khác nhau. Đối thể là người a. Đại từ nhân xưng Đại từ nhân xưng ngôi thứ hai: May, chúng mày, bạn, các bạn, bay, bụi bay.
thường được dùng trong hô ngữ, tuy theo phạm vi sử dụng và mang sắc thái ý nghĩa khác nhau. + Bạn/các bạn: Các ngữ đoạn này được dùng trong hô ngữ mang sắc thái thân mật giữa những người ngang hàng, loại quan hệ vai "cá mè một lứa", thường xuất hiện trong khẩu ngữ, đôi khi là lời mở đầu sách, lời chào của xướng ngôn viên phát thanh truyền hình. $ Uid1: 'Bạn ơi, đến thư viện trường đi lối nào? —> Mang ý nghĩa thân thiện giữa những vai có cùng độ tuổi, bạn bè. + Jidu2 Này các bạn ơi, lĩnh lương thôi —> Mang ý nghĩa thân mật giữa những cá nhân có quan hệ bạn bè.
© Vidu3 Các bạn và các em thân mến, chương trình truyền hình trên kênh 7 dén day la hét. —> Mang ý nghĩa xã giao có tính nghỉ thức May / chúng mày: Các ngữ đoạn này mang đậm sắc thái thân mật hoặc sỗ sàng, phạm vi sử dụng tương đối hạn chế. + d1: Mua réi, may a! —> Sắc thái thân mật. + Uidu2 Chúng mày ơi, thây vẻ kìa! —> Thường gặp trong ngôn ngữ Bắc Bộ.
Tyi bay/ bay: Các ngữ đoạn này thường mang sắc thái thân mật hoặc sỗ sàng, hoặc dùng để gọi những người dưới quyển, dưới tuổi thường gặp trong phương ngữ Nam Bộ + Vidu Tui bay, giang ra! (Người thọ nạn -Trích "TNLM") b. Tên ng Trong hô ngữ tiếng Việt, tên riêng của người chiếm một khối lượng khá lớn. Hô ngữ được cấu tạo bằng tên riêng thường có sắc thái thân mật. + Uid1: Nay Thu, may có còn là thằng lính không? (Ôc mượn hỗn - Nguyễn Đức Thọ).
—> Sắc thái thân mật. + Jidu2 Hàng ơi, mai gió mùa đông bắc Võng bạt, canh khuya lại nhớ Hùng. (Nắm mộ và cây trằm-Nguyễn Đức Mậu) + Uidu3 Này chị Ngây, chúng em định thu xép lên ngược, chi a! (Quê người-Tô Hoài) “Trong giao tiếp có tính chất xã giao hoặc thê hiện sự kính trọng, tên riêng thường được dùng kết hợp với các danh từ chung. © Vidu4 Thuwa bic si Binh, chau né thé nao rdi a? © Vidu 5: Thưa ông Phương, ông giám đốc đang bận họp, xin ông chờ một lát.
—>Mang tính xã giao hoặc thể hiện sự kính trọng. Trong một vài trường hợp đặc biệt, nhất là trong các văn bản nghệ thuật, ta thường gặp hô ngữ có hạt nhân định danh là tên người kết hợp với tính từ đi kèm phía sau: Ví dụ: + Thế đấy, Nguyền Du vĩ đại ơi! Câu thơ máu thịt thắm bao đời. (Tế Hanh) Từ chỉ họ trong tiếng Việt thường chỉ dùng để gọi người thứ ba. Nếu gọi người nhận phát ngôn theo họ thì phải dùng danh ngữ.
Danh từ thân tộc Trong Tiếng Việt, các danh từ thân tộc trong một phạm vi nào đó được sử dụng lâm thời như đại từ nhân xưng và được dùng để hô gọi. Cụ thể như: bố (ba, cha, tía, thẦy, cậu), mẹ (má, u, bằm, mợ, bu, ma, thím, mợ, cô, dì, chú, cậu, bác, ông (nội, ngoại, cố, trẻ), bà (nội, ngoại, cố, trẻ, dì), con, cháu. ¢ Vidul Ba ày thôi, lại cứ về ở với con đi! (Chuyện nhà tôi-Nguyễn Kim Châu) $ Jídu2 Con ơi, con ở đâu. Sao khổ thế hả con, ai cứu con tôi bây giờ, ai giúp tôi lôi nó ra khỏi cái thiên đường địa ngục đó bây giờ? (Hậu thiên đường-Nguyễn Thị Thu Huệ) © Vidu3.
Mẹ ạ! Anh Hòa là người có tài có đức. (Bến đợi-Nguyễn Mạnh Trinh) + Jídụu4 Cháu đã về đây, bà ơi! Tuy nhiên, trong Tiếng Việt cũng có một số danh từ thân tộc xét về ngữ nghĩa có vẻ thuộc loại trên nhưng không bao giờ có thể dùng như đại từ nhân xưng hay không được trực tiếp dùng làm hô ngữ như : vợ, chẳng, dâu, rễ, ông/bà nhạc. Thuộc loại danh từ được xử. lý như danh từ thân tộc con cé: thdy, vit, cô.(có thể dùng thay đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất và thứ hai); rò, bạn, đồng chí, bồ, cưng.(Cao Xuân Hạo, 1998) Người Việt Nam không bao giờ nói: - Dau ơi, lên mẹ bảo! -_ Chẳng ơi! Chồng cho vợ đi với! - Réoi! Ré trong chau giúp bà nhạc nhé! - Thita chéng! Ching cho vợ về quê mấy hôm nhé! “Trong những trường hợp như thế, người chồng tự xưng là: anh, ứôi với vợ, gọi vợ bằng, em, mình, nhà, bu nó, mẹ thằng cu.; người vợ tự xưng là em, tôi với chồng và gọi chồng bằng anh, mình, nhà, bố nó, bố thằng cu.; con dâu và con rê thì gọi ông nhạc bằng bố, thấy, ông (thay con), gọi bà nhạc bằng zmẹ, bà (thay con), ông bà nhạc tự xưng là bố, mẹ hay #6i, faø (ông nhạc còn tự xưng là thầy), gọi con rễ bằng cøn, anh (thay con), gọi con dâu bằng cøn, chị (thay con), Dang chú ý nữa là /hẩy và vú cả khi dùng với nghĩa gốc (thầy giáo, vú em) cũng được xử lý như một danh từ chỉ quan hệ thân thuộc, nghĩa là cũng dùng để xưng hô (ngôi thứ nhất hay ngôi thứ hai), để gọi (hô ngữ) hay đặt trước tên riêng như một chức danh.
Vi du: - Thưa thầy, em sợ thầy mắt thì giờ ạ. Trong khi đó, các từ: bạn, đồng chí không thể dùng để tự xưng, Bổ, cung khong thé dùng tự xưng mà cũng không dùng như một chức danh. Trong tiếng Việt, những từ chỉ vợ chồng dùng để hô gọi được dùng thay bằng những, phương tiện tương đương khá phong phú, có thể kể ra như sau: Dùng đề gọi chồng có: Mình ơi! Ông xã ơi! Thây ơi! Thầy nó ơi! Anh ơi! Ba thằng Tí ơi! Chàng ơi! Phu quân ơi! (ngôn ngữ cỗ), Lang quân ơi! (ngôn ngữ cỗ), ông ơi!, ông nó ơi! Bồ cu ơi! Bồ nó à! Bồ sắp nhỏ à! (có khi gọi: ba ơi!) Dùng để gọi vợ có: Mình oi! Ba xa oi! Mo minh oi! Mg oi! Ba oi! Bà nó ơi! Em ơi! Bu nó ơi! Mẹ nó à! Má con Hoa nè! Mẹ sắp nhỏ à! (có khi gọi: mẹ ơi!) Minh, anh (em) được dùng phổ biến nhất, thường được các cặp vợ chồng trẻ dùng để gọi nhau, thể hiện sắc thái tình cảm trìu mến, yêu thương âu yếm.Anh ày chiều nay em về trễ một chút. Anh giúp em cơm nước nghe anh! (Tôi thật không ngờ - Trần Thanh Hải) © Vidu2 Thôi, mình ạ, ta không có sợi thì đột thuê cũng được.
(Những truyện không muốn viết - Nam Cao) “Thầy em, thầy nó, bố nó thường gặp trong cách hô gọi phương ngữ miền Bắc, đặc biệt là ở vùng nông thôn Bắc Bộ. $ Jídul Bồ nó ạ! Con Hoa cứ đòi bỏ học. dùng trong hô gọi của những cặp vợ chồng đã có con, thường thấy trong phương ngữ Nam Bộ. Ví dụ: + _ Nè ba sắp nhỏ, ông tính di đâu? Bố cu, mẹ cu: tiếng gọi thân mật của các đôi vợ chồng nông dân Bắc Bộ có con trai đầu lòng còn bé Ví dụ: ¢ Nay bé ame cu! Me cu di Giang Đô khảo võ đã vẻ chăng, a me cu! (Quê người - Tô Hoài) Một số danh từ thân tộc trong tiếng Việt còn được dùng để gọi những người không, phải là thành viên trong gia đình, những người không có quan hệ họ hàng: anh, chị, em, bà, ông, cô, chú, thím, mợ, bác.
$ Jídul Trước đây Châu bảo tôi: Bà ơi, kén vừa thôi, lấy xừ xằng một ông chông đi (Bản tình ca cuối cùng-Nguyễn Thị Tuyét-TNLM) © Vidu2 Dạ, thưa bắc, tôi sống ở Sài Gòn đã mười hai năm nay. (Hương -Trần Tự - TNLM) d, Danh từ chỉ danh hiệu. ® _ Danh từ chỉ nghề nghiệp. $ Jídul Anh trạm, anh trạm, tôi có thư từ gì không? (Cái thư-Tam Kính) © Vidu2 Thuưa ông luật sự, chúng tôi lấy nhau chưa được tì hiểu kỹ càng.
Cô giáo ơi, hôm nay cô không đến lớp à ? © Danh tir chi chức vụ $ Jídul Báo cáo thủ trưởng, quê em ở Phô Yên, Bắc Thái a. (Bến đợi-Nguyễn Mạnh Trinh), © Vidu2 Thưa giám đốc, có khách ạ ? ® _ Danh từ chỉ danh hiệu $ Jídul Thưa bà chánh án! Sở dĩ tôi phải làm đơn ly dị với anh Hồng vì anh ấy với tôi có nhiều điểm không hợp nhau. Các danh từ chuyên biệt dùng đê gọi: ngài, ông, đồng cl ;Ngài sử dụng hạn chế trong tiếng Việt hiện đại. Trong quan hệ xã giao, người ta thường dùng từ ông, còn đồng chí được sử dụng chủ yếu trong phạm vi quân đội, trong các cơ quan tổ chức của Đảng Vi du: Céc déng chíạ, chúng ta phải hoàn thành việc này.
® Thưa ông, ông vui lòng đợi thêm khoảng ba mươi phút £ Danh từ tập hợp chỉ người Được dùng để gọi tất cả những thành viên trong một tập hợp nào đó, chẳng hạn: cả lớp, quý tòa, hội đồng xét xử, anh em, toàn thể giáo viên, tất cả các bạn. $ Jídul Thưa quý tòa, tôi đông ý ạ (Chị Thắm anh Hồng - Nguyễn Mạnh Trinh) © Vidu2 Cả lớp chú ý, chúng ta chuyển sang bài học mới. Anh em, méi người ghé vào một vai, có khiêng ra là được đấy. (Quê người - Tô Hoài) + Jídụu4 -nh vội vàng cúi xuống rôi bước hai bước đến trước hàng quân, hô to.
~_ Toàn đại đội chú ý: Nghiêm! g. Danh ngữ chỉ người Danh ngữ thường được dùng trong lời hô gọi thể hiện một thái độ, tình cảm nào đó như kính trọng, lịch sự, trìu mến, xem thường, khinh miệt.