mở đầu cho nền văn học viết của nước ta. THƠ THIỀN NHẬT BẢN TRONG BỐI CẢNH THỜI ĐẠI EĐO VÀ PHẬT GIÁO THIỀN TÔNG NHẬT BẢN 1. Thời đại Eđo Sau những cuộc chiến tranh kéo dài, cuối cùng với thiên tài lãnh đạo kiệt xuất, tướng quân Tokugawa Ieyasu đã đánh tan các đối thủ khác trên chiến trường, thống nhất đất nước, đưa Nhật Bản vào một thời đại mới - thời đại bình trị: thời Tokugawa hay còn gọi là thời Eđo, kéo dài gần ba thế kỉ, từ 1600 đến 1868. Dưới chế độ mạc phủ Tokugawa, Eđo (nay là Tokyo) được chọn làm thủ phủ, trở thành một trung tâm kinh tế, văn hóa lớn của cả nước.
Về kinh tế, sản xuất thủ công và thương mại phát triển mạnh mẽ, hàng loạt các công ty thương mại lớn ra đời với hàng trăm nhân viên. Các cửa hiệu bán lẻ và các cửa hàng thủ công nhỏ cũng xuất hiện hàng loạt. Hoạt động thương mại phát triển kéo theo sự phát triển của ngành tài chính, tiền tệ. Tiền giấy được phát hành và lưu thông rộng rãi.
Nghệ thuật in ấn đã có từ xưa nhưng đến thời này mới trở nên phổ biến, trở thành một ngành nghề kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và sự phổ biến rộng rãi các tác phẩm văn học nghệ thuật. Đến cuối thời Eđo, Nhật Bản đã trở thành một nước có “nền kinh tế thiên về tiền tệ hóa và thương mại hóa” [2]. Sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, đặc biệt là kinh tế thương mại, dịch vụ như trên đã dẫn đến sự hình thành các trung tâm kinh tế - văn hóa lớn như Eđo, Osaka, Kyoto … Cùng với tầng lớp võ sĩ (samurai), một tầng lớp có vai trò quan trọng trong xã hội, đã tồn tại trước nay, nhiều tầng lớp xã hội mới đã nổi lên và cũng nắm những vai trò quan trọng trong xã hội như thị dân, thương nhân, những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật … Mặc dù tầng lớp võ sĩ thuộc giai cấp thống trị trong lĩnh vực chính trị nhưng trong thời kì này, thị dân lại có vai trò vô cùng quan trọng trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc biệt là lĩnh vực văn hóa. Họ trở thành nguồn đề tài mới, đồng thời cũng là đối tượng phục vụ chủ yếu của văn hóa nghệ thuật.
Chính vì thế, văn hóa thời Eđo còn được gọi là “văn hóa thị dân”. Nghệ thuật điêu khắc phát triển mạnh, đặc biệt là loại tranh khắc gỗ nổi tiếng, một trong những sản phẩm quyến rũ nhất của nghệ thuật Eđo. Nghệ thuật sân khấu cũng được công chúng thời Eđo say mê, nhất là kịch nói và ca kịch. Văn học phát triển mạnh với những thể loại như tiểu thuyết, truyện truyền kì, truyện trào lộng … đặc biệt, thể thơ Haiku (một thể thơ đã có từ trước đó) trở nên hoàn thiện và đạt đến đỉnh cao với thiên tài Matsuo Basho (1644 – 1694).
Theo nhà nghiên cứu văn học Nhật Bản, Nhật Chiêu, “linh hồn của thời đại có thể được gọi lên bằng một chữ hàm súc ukiyo (phù thế)” [15]. Ban đầu ukiyo có nghĩa là một thế giới phù sinh, vô thường theo quan niệm Phật giáo. Nhưng trong thời đại Eđo, ukiyo còn mang nhiều nghĩa mới, “thường ám chỉ những gì mới mẻ, đam mê và tận hưởng cuộc sống” [15] Có thể nói toàn bộ nền kinh tế, văn hóa thời Eđo đều bị qui định bởi một hiện tượng chính trị, đó là chính sách “tỏa quốc” kéo dài hầu như cả thời đại (từ 1638 đến 1853). Chính sách trên một mặt đã làm hạn chế sự giao lưu kinh tế, văn hoá với thế giới, nhưng một mặt nó lại góp phần tạo cho Nhật Bản một nền văn hóa “bừng nở bản sắc” [15] Tóm lại, thời đại Eđo là một thời đại thái bình, thịnh trị của Nhật Bản.
Sự ổn định về chính trị, sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, văn hóa, xã hội … đã tạo tiền đề vững chắc cho nước Nhật bước sang thời kì hiện đại (Thời kì Minh Trị) 1. Phật giáo Thiền tông Nhật Bản Phật giáo từ Triều Tiên chính thức du nhập vào Nhật bản năm 552 (có sách cho là năm 538) với sự kiện vua Paekche của Triều Tiên cử một phái đoàn truyền giáo đến Nhật. Phái đoàn này đã được Nhật hoàng tiếp đón một cách nồng hậu và đã dâng cho đức vua một tượng Phật bằng vàng, một số quyển kinh, cờ, lọng, chuông, mõ… Sau những phản ứng ban đầu của một số dòng họ có uy tín trong triều, cuối cùng, dưới sự đỡ đầu của Thái tử Shotuku (574 - 622), người được xem là sơ tổ của Phật giáo Nhật Bản, Phật giáo đã dần được chấp nhận và đi vào đời sống của dân chúng. Thái tử vâng lời mẫu hậu Suiko đã cất công nghiên cứu và tuyên giảng ba bộ Kinh Đại Thừa cho dân chúng Nhật, về sau những bài giảng này được viết thành một bộ luận rất giá trị.
Sau khi lên ngôi, Thái tử Shotoku đã ban hành ngay một chiếu chỉ rằng: ''Toàn dân Nhật Bản phải kính ngưỡng và thọ trì Phật pháp''. Ông đã cho xây chùa chiền trên khắp đất nước. Đến triều đại Nara (710 - 194) qua sự ủng hộ Phật pháp của Hoàng đế Shomu (701 - 756), Phật giáo đã trở thành quốc giáo. Năm 741, Hoàng đế Shomu đã ban hành một quốc lệnh rằng mỗi làng và mỗi tỉnh phải xây dựng một ngôi chùa và dân chúng phải thành tâm thọ trì Phật Pháp.
Cũng trong thời đại này, sáu tông phái Phật giáo là Luật tông (Ritsu), Câu Xá tông (Kusha), Thành Thật tông (Jojitsu), Tam Luận tông (Sanron), Pháp Tướng tông (Hosso) và Hoa Nghiêm tông (Kegon) từ Trung Quốc truyền vào Nhật Bản. Đến thời Heian (794 – 1185), hai tông phái Phật giáo là Chân Ngôn tông (Shingon) và Thiên Thai tông (Tendai) lại được truyền vào Nhật Bản từ Trung Quốc. Hai tông phái này phát triển rất mạnh, lấn át cả các tông phái đã có trước đó. Mãi đến cuối thế kỉ XII, tức là đầu thời kỳ Kamakura (1185 – 133), Thiền tông mới được du nhập vào Nhật Bản cũng từ Trung Quốc, theo bước chân qui hương của Thiền sư Êisai (1141 – 1215) và sau đó là Thiền sư Dogen (1200 – 1253).
Phái Thiền mà Thiền sư Êisai đưa về là phái Thiền Lâm Tế, chú trọng việc tham công án, khác với phái Thiền Tào Động của Dogen, chú trọng việc tọa Thiền. Cùng với Thiền tông, hai phái khác là Nhật Liên tông (Nichiren) và Tịnh Độ tông (Jodo) cũng lần lượt xuất hiện. Như vậy, cho đến cuối thế kỉ XIII, các tông phái Phật giáo chính đều có mặt ở Nhật. Trong đó, dù xuất hiện sau nhiều tông phái khác, Thiền tông vẫn là tông phái phát triển mạnh mẽ và có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong đời sống văn hóa Nhật Bản.
Đến thời Edo (1600 – 1868), “Phật giáo và hệ thống chùa chiền được sử dụng để nhổ bỏ tận gốc đạo Cơ đốc” [2]. Đặc biệt phong trào “phổ biến Thiền” do các Thiền sư Shido Buman (1603 – 1676), Bankei Yotaku (1622 – 1693) và Hakuin (1685 – 1769) chủ xướng được hưởng ứng rộng rãi. Cốt tủy của Thiền là bằng đường lối tu luyện thân tâm nhằm đạt đến trạng thái giác ngộ - trạng thái “tâm vật nhất như”, trống không, vi diệu. Thiền tông Nhật Bản cũng không đi ra ngoài cốt tủy ấy.
Tuy nhiên, do những đặc trưng của văn hóa, của tập quán dân tộc, đặc biệt là sự ảnh hưởng của tôn giáo bản địa (Thần giáo), Thiền Nhật Bản cũng có những nét đặc trưng riêng biệt. Chẳng hạn, mục tiêu chung của Thiền là “kiến tính”, là NGỘ (Satori). Nhưng đối với người Nhật đó không phải là nơi an trụ cuối cùng. Đích đến cuối cùng của Thiền chính là Thiền – trong – hoạt – động.
Nhà Phật học nổi tiếng Nhật Bản Takashina Rosen khẳng định: “Nơi an trụ cuối cùng của Thiền, mạch sống của Phật giáo chính là Thiền – trong – hoạt – động, không lạc ra ngoài sinh hoạt tự nhiên của đời sống thường ngày” (Thiền vị trên đầu lưỡi, dẫn theo Nhật Chiêu, Nhật Bản trong chiếc gương soi [13] ). Chính trên quan điểm Thiền là cuộc sống, là không tách rời những sinh hoạt tự nhiên của con người nên rất nhiều Thiền sư Nhật Bản có cuộc sống như người bình thường, cũng “ăn thịt cá và uống rượu sakê” [13], cũng “yêu phụ nữ và sinh con” [13]. Ikkyu (1394 – 1481), một Thiền sư nổi tiếng của Nhật, đã từng tuyên bố trong một bài đạo ca của mình: Những gì đi ngược lại Một tâm hồn bình thường Thì sẽ làm trở ngại Chính pháp của con người Thì sẽ làm trở ngại Pháp của Phật mà thôi. Hay trong hành trạng của Thiền sư Ryokan (1758 – 1831) có kể: Một lần, Ryokan du hành với một vị sư trẻ.
Tại một tiệm trà, họ được cúng dường thức ăn trong đó có lẫn cá. Vị sư trẻ không động tới con cá, theo đúng truyền thống Phật giáo chính thống, nhưng Ryokan ăn sạch không nghĩ ngợi. Vị sư mới nói với Ryokan, “Thức ăn đó có cá, thầy biết.” Ryokan đáp với nụ cười, “Đúng vậy, nó ngon tuyệt” [47] Đây cũng chính là chỗ tương đồng của Thiền tông Nhật Bản với Thiền tông Việt Nam, đặc biệt là đạo Thiền của Tuệ Trung. Có thể nói, từ một tông phái ngoại lai, Thiền tông ngày càng phát triển mạnh mẽ và bám sâu rễ vào đời sống văn hóa tinh thần Nhật Bản.
Nó đã để lại dấu ấn trong mọi lĩnh vực văn hóa nghệ thuật và trong sinh hoạt hằng ngày của con người. Nói theo nhà nghiên cứu văn học Nhật Bản, Nhật Chiêu: “Thiền đã trở thành sinh mệnh và cốt tủy của văn hóa Nhật” [13]. TIỂU KẾT Mặc dù ra đời ở hai thời đại cách xa nhau gần ba thế kỉ với những đặc điểm về kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau nhưng thơ Thiền Việt Nam thời Lý – Trần và thơ Thiền Nhật Bản thời Eđo vẫn có nhiều điểm tương đồng chính là do cả hai cùng là kết tinh của một thời đại mà nền văn hoá thấm đẫm tinh thần Thiền tông. Chương 2 NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG GIỮA THƠ THIỀN VIỆT NAM THỜI LÝ – TRẦN VÀ THƠ THIỀN NHẬT BẢN 2.
NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG 2. Đề tài thiên nhiên Có thể nói thiên nhiên là đề tài muôn thuở của thơ ca, nhất là thơ ca phương Đông. Thơ Thiền Việt Nam thời Lý – Trần và thơ Thiền Nhật Bản thời Eđo cũng không ngoại lệ. Nhìn vào hai đối tượng này, có thể dễ dàng nhận ra cả hai đều có mảng đề tài khá lớn về thiên nhiên.
Đặc biệt, đối với thơ Thiền Nhật Bản thời Eđo (cụ thể là thơ Haiku), đề tài thiên nhiên chiếm tỉ lệ khá cao.