Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Văn học trung đại Việt Nam từ đầu thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX ghi nhận những chuyển biến sâu sắc trên cả hai phương diện sáng tác và lý luận phê bình. Về thực tiễn sáng tác, văn học dân tộc đạt đến trình độ cổ điển với thành tựu phong phú ở nhiều thể loại như thơ, phú, ngâm khúc, truyện thơ, hát nói, đồng thời xuất hiện nhiều tác giả bộc lộ cá tính sáng tạo như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ. Về lý luận phê bình, các văn bản như bài tựa, lời bạt của Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Chú, Ngô Thế Lân, Cao Bá Quát; thư từ trao đổi giữa Nguyễn Văn Siêu (với Trần Đức Anh, Ngô Huy Phan), Nguyễn Miên Trinh (với bạn về thơ văn, với Trọng Cung về từ khúc); cùng các cuộc tranh luận xung quanh Truyện Kiều đã phản ánh sự va chạm giữa ý thức sáng tác và tiếp nhận cũ với mới.

Từ thế kỷ XV – XVII chuyển sang thế kỷ XVIII – XIX, cái mới phi chính thống dần chiếm lĩnh đời sống văn học. Việc xác định ý thức nghệ thuật của giai đoạn hậu kỳ trung đại là vấn đề phức tạp do các tác giả thời kỳ này ít xây dựng hệ thống lý luận chặt chẽ theo mô hình phương Tây, mối liên hệ giữa lý luận phê bình và thực tiễn sáng tác có thời điểm mờ nhạt. Tuy nhiên, việc khảo sát ý thức nghệ thuật cho phép tiếp cận bản chất và quy luật vận động nội tại của văn học giai đoạn. Khoảng trống nghiên cứu mà luận án hướng tới là trả lại giá trị cho di sản lý luận cổ điển, lý giải văn học trung đại từ chính ý thức của người trung đại, và khảo sát một cách có hệ thống tiến trình vận động từ ý thức nghệ thuật đến thực tiễn sáng tác trong hai thế kỷ XVIII và XIX.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là khảo sát toàn diện các phương diện biểu hiện của ý thức nghệ thuật trong văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XVIII – XIX trong tương quan với giai đoạn trước, cụ thể gồm 4 mục tiêu được đánh số theo văn bản:

  1. Dẫn nhập khái niệm ý thức nghệ thuật, mối quan hệ giữa sự vận động của ý thức nghệ thuật và sự vận động của văn học, phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến sự vận động của ý thức nghệ thuật.
  2. Sưu tầm, tổng hợp, phân loại tư liệu, lấy đó làm cơ sở khảo sát sự vận động của ý thức nghệ thuật trên một số phương diện cốt yếu.
  3. Làm rõ sự thể hiện của ý thức nghệ thuật trong thực tiễn sáng tác.
  4. Chỉ ra quy luật vận động của văn học giai đoạn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện của ý thức nghệ thuật trong lý luận phê bình và thực tiễn sáng tác, tập trung vào ba phương diện cốt lõi: chức năng nghệ thuật, chất liệu nghệ thuật và cấu trúc nghệ thuật.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn hậu kỳ trung đại, kéo dài từ đầu thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát trên hai trục không gian chính gồm khu vực thành thị (không gian Kẻ Chợ - Thăng Long, Phố Hiến, Phú Xuân, Hội An, Cù Lao Phố, Sài Gòn) và khu vực nông thôn; phân định không gian văn học Đàng Ngoài và Đàng Trong thế kỷ XVIII, cùng không gian Nam Kỳ Lục Tỉnh và Trung - Bắc thế kỷ XIX.
  • Phạm vi tư liệu: Thuần túy thuộc lĩnh vực văn học, không bao gồm các loại hình nghệ thuật diễn xướng như tuồng, chèo. Hệ thống tư liệu bao gồm:
    • Tác phẩm lý luận, phê bình, nghiên cứu trung đại (Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn, Mân hành thi thoại của Lý Văn Phức, Thương Sơn thi thoại của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm).
    • Các bài tựa, bạt, lời bình, các cuộc nói chuyện thơ, thư từ trao đổi về văn học.
    • Các bài thơ, phú, lời dẫn trước tác phẩm, các bài ký, văn bia.
    • Những bài thơ luận về thơ (luận thi thi).
    • Thực tiễn sáng tác văn học chữ Hán và chữ Nôm giai đoạn thế kỷ XVIII – XIX.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước

Lịch sử nghiên cứu ý thức nghệ thuật và tiến trình văn học thế kỷ XVIII – XIX được tác giả tổng thuật qua các hướng tiếp cận chính:

Hướng nghiên cứu Tác giả, công trình và thời gian tiêu biểu Nội dung và quan điểm chính
Phân kỳ lịch sử văn học - Dương Quảng Hàm (1943, Việt Nam văn học sử yếu)
- Nhóm Lê Quí Đôn (cuối thập niên 50, Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam)
- Ban Văn Sử Địa (Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam)
- Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương, Nguyễn Lộc (1979, Lịch sử văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX)
- Lê Trí Viễn (1996, Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam)
- Lã Nhâm Thìn (2006, SGK Ngữ văn 10)
- Trần Nho Thìn (2012, Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX)
- Đoàn Lê Giang (2001, Luận án Tiến sĩ Ý thức văn học cổ trung đại Việt Nam)
Xác lập các mốc phân kỳ dựa trên biến cố lịch sử, chính trị hoặc sự biến đổi nội tại của văn học. Đoàn Lê Giang chia 3 giai đoạn: tiền kỳ (X – đầu XV), trung kỳ (XV – cuối XVII), hậu kỳ (XVIII – cuối XIX).
Sưu tầm và dịch thuật di sản lý luận - Nguyễn Đức Vân (1963, Tạp chí Văn học)
- Nguyễn Huệ Chi, Trần Thị Băng Thanh, Hoàng Lê, Phạm Thị Tú, Trần Lê Sáng, Chương Thâu, Hồ Sĩ Hiệp (1968 – 1984, Tạp chí Văn học)
- Nguyễn Minh Tấn chủ biên (1981, Từ trong di sản)
- Đỗ Văn Hỷ (1993, Người xưa bàn về văn chương)
- Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Cừ, Vũ Thanh, Trần Nho Thìn (2007, 10 thế kỷ bàn luận về văn chương)
Dịch thuật, công bố các bài tựa, bạt, thư từ của Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Sĩ, Ninh Tốn, Nguyễn Văn Siêu, Miên Trinh, Cao Xuân Dực; chứng minh sự tồn tại của nền lý luận cổ điển Việt Nam.
Quan niệm văn học, thẩm mỹ và phương pháp xã hội học - Trần Thanh Mại (1960), Trần Nghĩa (1970), Vũ Đình Liên (1972), Trần Lê Sáng (1973), Đỗ Đức Dục (1984)
- Đinh Gia Khánh (1964), Lê Đình Kỵ (1970, Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực)
- Nguyễn Lộc (1976, 1978, Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX)
- Nguyễn Tài Thư (1980, Cao Bá Quát – con người và tư tưởng)
- Mai Cao Chương, Lê Trí Viễn (1982, hội thảo 160 năm ngày sinh Nguyễn Đình Chiểu)
- Nguyễn Đổng Chi (1955, Tạp chí Nghiên cứu Văn – Sử – Địa)
Khảo sát các mệnh đề "văn dĩ tải đạo", "thi ngôn chí", "người cùng thì thơ mới hay", quan niệm "tình, cảnh, sự" của Lê Quý Đôn; gắn quan niệm văn học với chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa nhân đạo và lập trường giai cấp.
Mô hình loại hình học tác giả - Trương Tửu / Nguyễn Bách Khoa (1944, Tâm lí và tư tưởng Nguyễn Công Trứ)
- Phạm Thế Ngũ (1961 – 1965, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên)
- Thanh Lãng (1967, Bảng lược đồ văn học Việt Nam)
- Trần Đình Hượu (1981, 1985, 1995, Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại)
- Trần Ngọc Vương (1995, Loại hình học tác giả văn học nhà nho tài tử và văn học Việt Nam)
Trần Đình Hượu phân loại 3 mẫu nhà nho: hành đạo, ẩn dật, tài tử; xác định nhà nho tài tử đối lập Tài - Đức, Tình - Tính, gắn với đô thị, là chủ nhân của ngâm khúc, truyện Nôm và hát nói. Trần Ngọc Vương đào sâu loại hình nhà nho tài tử trong xã hội phi cổ truyền.
Thi pháp học, tiếp nhận và văn hóa học - Trần Đình Sử (1999, Mấy vấn đề về thi pháp văn học trung đại Việt Nam)
- Nguyễn Huệ Chi (1994, về Nguyễn Khuyến)
- Nguyễn Phạm Hùng (1999, mô hình thể loại)
- Phương Lựu (1997, Góp phần xác lập hệ thống quan niệm của văn học trung đại Việt Nam)
- Trần Nho Thìn (2005, 2007, 2010, 2012, 2013, Văn học trung đại Việt Nam: dưới góc nhìn văn hóa)
- Nguyễn Ngọc Quận, Nguyễn Đăng Na (2005), Nguyễn Thanh Tùng (2006, 2010), Nguyễn Đình Phức (2006, 2009), Phạm Văn Ánh (2011), Hoàng Ngọc Cương (2016), Phạm Quang Trung (1994, 1996, 1999, 2011)
Ứng dụng thi pháp học, lý thuyết thể loại của M. Bakhtin, R. Tynianov; Trần Nho Thìn nghiên cứu trào lưu chủ tình, ảnh hưởng của Thế thuyết tân ngữ, sự chuyển dịch từ chủ nghĩa dân bản sang chủ nghĩa nhân bản, và sự khác biệt thi học Đàng Trong - Đàng Ngoài.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận theo khuynh hướng xã hội học, nghiên cứu đơn lẻ từng tác gia, thể loại hoặc khảo sát chung toàn bộ mười thế kỷ văn học trung đại. Một số công trình nghiên cứu hệ thống quan niệm văn học của Phương Lựu còn nghiêng về phân loại tổng quát mà chưa làm nổi bật tiến trình vận động lịch đại của từng giai đoạn; công trình của Lê Giang tập trung vào lịch sử tư tưởng lý luận. Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là:

  • Khảo sát sự vận động của ý thức nghệ thuật trong tính chỉnh thể của giai đoạn hậu kỳ trung đại (thế kỷ XVIII – XIX).
  • Làm rõ đường dây liên kết và sự cụ thể hóa mang tính quy luật từ ý thức nghệ thuật (trong lý luận phê bình, tựa, bạt, thi thoại) sang thực tiễn sáng tác (ngôn ngữ, hình tượng, thể loại).
  • Kết hợp lý luận phương Tây hiện đại với các phạm trù lý luận cổ điển phương Đông để giải thích văn học trung đại từ chính hệ thống khái niệm của người trung đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp các lý thuyết văn học hiện đại và hệ thống phạm trù cổ điển:

  • Lý thuyết phản ánh: Tiếp thu quan điểm của G. Pospelov (Những vấn đề lịch sử văn học) về nghệ thuật như một dạng ý thức xã hội, trong đó quá trình hình thành quy tắc văn học mới đi từ quan niệm xã hội đến nội dung thi ca và xây dựng thủ pháp nghệ thuật.
  • Ký hiệu học văn hóa: Tiếp thu luận điểm của Y. Lotman về cấu trúc tác phẩm nghệ thuật chứa đựng hệ thống mã bổ sung (mã thời đại, mã thể loại, mã phong cách) chi phối tri giác người đọc.
  • Thi pháp học và lý luận thể loại: Vận dụng quan điểm của M. Bakhtin (Lý luận và thi pháp tiểu thuyết) về vai trò hạt nhân của thể loại trong tiến trình văn học, tính đa ngữ và cấu trúc tác phẩm như một cấu trúc mang nghĩa; tham chiếu công trình của Millicent Joy Marcus (Một ngụ ngôn của hình thức: Sự tự ý thức văn học trong tác phẩm “Mười ngày”).
  • Lý thuyết tiếp nhận: Vận dụng luận điểm của H. R. Jauss (Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa học văn học) về lịch sử tiếp nhận, chân trời đón đợi (tầm đón nhận), khoảng cách thẩm mỹ; khái niệm cộng đồng diễn giải (interpretive community) của Stanley Fish (qua diễn giải của Trương Đăng Dung).
  • Lý thuyết hệ hình (paradigm): Tiếp thu quan điểm của Thomas Kuhn (được Đỗ Lai Thúy, Trần Ngọc Vương ứng dụng) để nhận diện sự thay đổi hệ hình văn học qua hệ thống tư tưởng thẩm mỹ, quan niệm văn học, chủ đề và thể loại.
  • Khung khái niệm văn hóa học và đô thị: Khái niệm "văn học cung đình" và "văn học thành thị" do Trần Nho Thìn đề xuất; khái niệm chức năng "trực sinh" (orthogenetic) của Robert Redfield và Milton Singer (Vai trò văn hóa của đô thị).
  • Hệ thống phạm trù mỹ học truyền thống: Khảo sát các cặp phạm trù Đạo – Tình, Tài – Đức, Tình – Tính, Thực – Hư, chức năng "Tải đạo" – "Ngôn tình", thuyết "Tính linh" (Viên Mai trong Tùy Viên thi thoại).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và liên ngành:

  • Phương pháp lịch sử – cụ thể: Phân tích hoàn cảnh lịch sử, biến cố xã hội, bối cảnh văn hóa và tư tưởng để lý giải sự nảy sinh các đặc điểm mới của ý thức nghệ thuật giai đoạn hậu kỳ.
  • Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Nhìn nhận văn học thế kỷ XVIII – XIX như một chỉnh thể thống nhất giữa ý thức lý luận và thực tiễn sáng tác.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Khảo sát, trích xuất dữ liệu từ các văn bản tựa, bạt, thi thoại, tác phẩm văn học để khái quát quy luật vận động.
  • Phương pháp so sánh: So sánh lịch đại giữa giai đoạn trung kỳ (thế kỷ XV – XVII) và hậu kỳ (thế kỷ XVIII – XIX); so sánh không gian văn học Đàng Ngoài và Đàng Trong; bước đầu đối sánh văn học Việt Nam với văn học khu vực Đông Á.
  • Phương pháp liên ngành bổ trợ: Kết hợp mĩ học (lý giải quan niệm cái đẹp), lý thuyết tiếp nhận (nghiên cứu cách đọc), ngôn ngữ học xã hội (khảo sát hiện tượng song thể ngữ Hán - Nôm và dạng thức ngôn ngữ), và phân tích diễn ngôn (khảo sát cấu trúc thể loại).
  • Thao tác thống kê, phân loại: Phân loại tư liệu lý luận và thống kê các biểu hiện thể loại, ngôn ngữ.

Nguồn tư liệu

  • Văn bản lý luận, phê bình cổ điển: Vân đài loại ngữ (Lê Quý Đôn), Mân hành thi thoại (Lý Văn Phức), Thương Sơn thi thoại (Tùng Thiện Vương Miên Thẩm), Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ), Thượng kinh ký sự (Lê Hữu Trác), Phủ biên tạp lục (Lê Quý Đôn).
  • Tuyển tập tư liệu lý luận: Từ trong di sản (Nguyễn Minh Tấn chủ biên, 1981), Người xưa bàn về văn chương (Đỗ Văn Hỷ, 1993), 10 thế kỷ bàn luận về văn chương (Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Cừ, Vũ Thanh, Trần Nho Thìn, 2007).
  • Văn bản sáng tác: Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn), các tác phẩm của Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Chu Mạnh Trinh, Dương Khuê, Dương Lâm; các truyện thơ Nôm, ngâm khúc, hát nói, thơ văn chữ Hán.
  • Ghi chép lịch sử, văn hóa: Tài liệu của Samuel Baron, Cristophoro Borri, Charles B. Maybon, Trịnh Hoài Đức (Gia Định thành thông chí), Yoshiharu Tsuboi.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đối tượng

Chương 1 thiết lập khung lý thuyết, xác định tiêu chí phân kỳ và phân tích toàn diện các nhân tố bối cảnh tác động đến sự biến đổi ý thức nghệ thuật:

  • Khái niệm và các phương diện biểu hiện của ý thức nghệ thuật: Luận án xác định ý thức nghệ thuật trong văn học biểu hiện qua ba phương diện: ý thức về chức năng nghệ thuật, ý thức về chất liệu nghệ thuật, và ý thức về cấu trúc nghệ thuật. Tiến trình văn học là quá trình tự ý thức, chống lại sự tự động hóa của ngôn ngữ và thể loại.
  • Tiêu chí phân kỳ và phân vùng không gian văn học: Tiếp thu mô hình phân kỳ của Đoàn Lê Giang gồm 3 giai đoạn: Tiền kỳ (thế kỷ X – đầu XV), Trung kỳ (thế kỷ XV – cuối XVII), và Hậu kỳ (thế kỷ XVIII – cuối XIX). Luận án xác định tiến trình văn học có tính độc lập tương đối với lịch sử chính trị; ý thức nghệ thuật mới khởi phát từ thế kỷ XVIII kéo dài liên tục qua thế kỷ XIX. Không gian văn học được phân định theo trục thành thị – nông thôn và Đàng Ngoài – Đàng Trong (tiếp nối là Nam Kỳ Lục Tỉnh).
  • Bối cảnh lịch sử – xã hội:
    • Sự khủng hoảng của thể chế phong kiến Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài, các phong trào khởi nghĩa nông dân rầm rộ từ 1739 đến 1769 dưới thời Lê Ý Tông, Lê Hiển Tông, Trịnh Giang, Trịnh Doanh, Trịnh Sâm (các cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật, Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Hoàng Công Chất, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương).
    • Biến động tại Đàng Trong qua công cuộc Nam tiến thời chúa Nguyễn Phúc Khoát với chính sách "tàm thực" của Nguyễn Cư Trinh, hình thành Trấn Biên dinh, Phiên Trấn dinh, Long Hồ dinh; sự hình thành tính cách di động, cởi mở của lưu dân miền Nam; nạn áp bức, đói kém dẫn đến khởi nghĩa chàng Lía và phong trào Tây Sơn năm 1771 xóa bỏ chia cắt hai đàng.
    • Sự thành lập vương triều Nguyễn năm 1802, chính sách củng cố Nho giáo độc tôn thời Minh Mạng; biến cố thực dân Pháp nổ súng xâm lược năm 1858 với các hiệp ước Nhâm Tuất (1862), Quý Mùi (1883), Giáp Thân (1884). Những biến cố này làm sụp đổ trật tự tam cương ngũ thường truyền thống, tạo tâm thế thất vọng, hoài nghi ở giới nhà nho (Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến) và thúc đẩy nhu cầu nhận thức lại con người.
  • Bối cảnh văn hóa và văn hóa thị dân:
    • Sự phục hưng đô thị từ thế kỷ XVII ở cả hai miền: Thăng Long (Kẻ Chợ - theo mô tả năm 1865 của Samuel Baron có phiên chợ đông đúc vào ngày mồng một và ngày rằm), Phố Hiến, Phú Xuân (được Nguyễn Phúc Khoát xưng Vương năm 1744 xây dựng nguy nga), Hội An, Cù Lao Phố, Sài Gòn.
    • Sự trỗi dậy của văn hóa thị dân và "văn học thành thị" (khái niệm của Trần Nho Thìn), gợi ý cho sự ra đời của mẫu hình nhân vật tài tử – giai nhân.
    • Các sinh hoạt văn hóa đô thị như thưởng trà, ngắm hoa, nghe nhạc giáo phường, hát tuồng/hát bội, hát ả đào lan rộng trong giới quyền môn, phú hộ và sĩ tử (Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ ghi lại việc con em lương gia tập hát chèo, hát bội từ năm Canh Tuất 1790; sự phổ biến của thơ cung oán trong Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác và ngoại truyện kỳ thư).
    • Tính chất văn hóa cởi mở, thực dụng và chuộng hàng hóa xa xỉ ở Đàng Trong do hoàn cảnh thương mại tự do, chính sách dung nạp nhân tài (Đào Duy Từ, thương gia người Hoa Mạc Cửu tại Hà Tiên, các giáo sĩ phương Tây như Bartholomeu da Costa, Antonio de Arnedo, Sanna, Pires, De Lima, Neugebauer, Siebert phục vụ chúa Nguyễn) và lối sống phong lưu ghi nhận trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn cùng ghi chép của Cristophoro Borri.
  • Bối cảnh tư tưởng và ảnh hưởng ngoại sinh: Sự rạn nứt của hệ tư tưởng Nho giáo chính thống, sự thâm nhập của trào lưu tư tưởng phi chính thống và văn hóa tiểu thuyết, thi thoại Trung Quốc.

Chương 2: Sự vận động trong ý thức về chức năng nghệ thuật của văn học

Chương 2 phân tích sự dịch chuyển căn bản trong quan niệm về chức năng và giá trị của văn học:

  • Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực:
    • Ý thức về "đạo" và "tình": Chuyển dịch từ phạm trù "đạo" (đạo lý phong kiến, luân lý Nho gia mang tính phận vị) sang phạm trù "tình" (tình cảm tự nhiên, cảm xúc cá nhân trần thế). Xác lập "trào lưu chủ tình", nhìn nhận con người là "nòi tình", "giống hữu tình".
    • Ý thức về "thực" và "hư": Ý thức về cái "thực" chuyển từ phản ánh các giá trị chuẩn mực tiên nghiệm của kinh viện sang phản ánh hiện thực đời sống thế tục, nỗi bất hạnh, oan khuất của những số phận đời thường ("điều phụ", "khuê phụ", "kỳ thần trục khách").
  • Mối quan hệ giữa tác giả, tác phẩm và người đọc:
    • Ý thức về cái tôi cá tính trong sáng tác: Khẳng định cá tính sáng tạo, quyền bộc lộ cái tôi "thị tài", "đa tình", vận dụng thuyết "tính linh" (đề cao cảm xúc chân thực, phản đối sao phỏng gượng gạo theo quan điểm của Cao Bá Quát, Lê Quý Đôn).
    • Ý thức về cách đọc "hướng tình" trong tiếp nhận: Người đọc tiếp nhận tác phẩm bằng sự đồng cảm, rung động tâm lý thay vì tìm kiếm bài học răn dạy đạo đức; hình thành cộng đồng diễn giải chia sẻ mỹ cảm tài tử.
  • Sự vận động của các chức năng nghệ thuật:
    • Chức năng "tải đạo" truyền thống bị thu hẹp hoặc tái định nghĩa (như trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, "chở đạo" gắn với yêu nước thương dân).
    • Chức năng "ngôn tình", biểu hiện xúc cảm và nhu cầu tự do nhân bản trở thành chức năng chủ đạo, phản ánh khuynh hướng văn học duy cảm, duy tình.

Chương 3: Sự vận động về chất liệu và cấu trúc nghệ thuật trong thực tiễn sáng tác văn học

Chương 3 chứng minh sự chuyển hóa của ý thức nghệ thuật vào cấu trúc và thi pháp tác phẩm:

  • Sự biến đổi về ngôn ngữ nghệ thuật:
    • Biến đổi trong cấu trúc song thể ngữ: Thay đổi vị thế giữa chữ Hán và chữ Nôm; sự phát triển vượt bậc của văn học chữ Nôm như một phương tiện biểu đạt thế giới nội tâm tinh vi và đời sống thường nhật.
    • Từ ngôn ngữ cao nhã đến ngôn ngữ thế tục: Phá vỡ tính quy phạm và hệ thống ước lệ cổ điển; đưa khẩu ngữ, từ ngữ sinh hoạt, thành ngữ, ca dao vào tác phẩm (tiêu biểu ở thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tú Xương).
  • Sự biến đổi về hình tượng nghệ thuật:
    • Hình tượng mang tính "duy tình": Nhân vật hành động theo tiếng gọi của tình yêu và cảm xúc tự nhiên, đối lập với quy tắc danh giáo Nho gia.
    • Hình tượng mang tính "duy mỹ": Tôn vinh vẻ đẹp hình thể, tài năng nghệ thuật và phẩm chất cá nhân trần thế.
    • Hình tượng mang tính "dị biệt": Xuất hiện các nhân vật phá cách, dị biệt, những con người phản kháng hoặc nằm ngoài khuôn mẫu quân tử - liệt nữ truyền thống.
  • Sự biến đổi về thể loại và kết cấu trần thuật:
    • Biến đổi hệ thống thể loại: Chuyển dịch các thể loại phi chính thống từ ngoại vi vào trung tâm (sự thịnh hành của ngâm khúc, truyện thơ Nôm, hát nói).
    • Hiện tượng phá vỡ quy phạm thể loại: Tự do hóa luật thi, dung hợp yếu tố tự sự và trữ tình.
    • Chủ thể phát ngôn trong vai mới: Người trần thuật không còn giữ vai trò nhà giáo huấn đạo đức mà chuyển sang vai người đồng cảm, chia sẻ tâm tư, tự trào.
    • Mở rộng và biến đổi kết cấu trần thuật: Kết cấu cốt truyện đa tuyến, mở rộng thời gian tâm lý và không gian sinh hoạt đời thường (thể hiện qua các phụ lục đối sánh như Bảng 2. Truyện thơ Việt Nam và tiểu thuyết Trung Hoa, Hệ thống thể loại, Đào hoa mộng ký).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về lý luận và thực tiễn

Theo nội dung tự khẳng định trong văn bản luận án:

  • Về lý luận:
    • Vận dụng kết hợp lý luận phương Tây (thi pháp học, ký hiệu học, lý thuyết tiếp nhận, ngôn ngữ học xã hội) và lý luận cổ điển phương Đông để xây dựng mô hình nghiên cứu tiến trình văn học dựa trên trục "từ ý thức nghệ thuật đến thực tiễn sáng tác".
    • Lý giải tính quy luật và tính hệ thống của sự vận động văn học trung đại Việt Nam giai đoạn hậu kỳ (thế kỷ XVIII – XIX) trong tương quan với giai đoạn trung kỳ (thế kỷ XV – XVII).
    • Đặt cơ sở phân tích ý thức nghệ thuật của văn học trung đại Việt Nam giai đoạn hậu kỳ trong không gian văn hóa Đông Á.
  • Về thực tiễn:
    • Sưu tầm, hệ thống hóa và phân loại khối tư liệu lý luận cổ điển (các bài tựa, bạt, thi thoại, thư từ bàn luận văn học) và sáng tác thế kỷ XVIII – XIX.
    • Phục dựng diện mạo biến đổi của văn học trên các phương diện chức năng, chất liệu ngôn ngữ, hình tượng và cấu trúc thể loại.
    • Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành văn học trung đại Việt Nam.

Kiến nghị và định hướng đề xuất

  • Đề xuất tiếp tục đẩy mạnh công tác sưu tầm, dịch thuật và công bố có hệ thống các di sản lý luận văn học trung đại Việt Nam (đặc biệt là các bài tựa, bạt, thi thoại, thư từ chữ Hán còn phân tán).
  • Khuyến nghị tiếp cận văn học trung đại từ chính hệ thống thuật ngữ, phạm trù mỹ học của người xưa thay vì áp đặt thuần túy các khái niệm hiện đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Phạm vi tư liệu khảo sát thuần túy giới hạn trong lĩnh vực văn học thành văn (chữ Hán và chữ Nôm), chưa bao quát và đối chiếu sang các loại hình nghệ thuật diễn xướng truyền thống có liên quan mật thiết như sân khấu tuồng, chèo.
  • Việc tiếp cận một số tài liệu lý luận, phê bình cổ điển còn gặp khó khăn do tính chất phân tán của văn bản gốc và tình trạng dịch thuật chưa đồng bộ giữa các tác gia.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh đối chiếu ý thức nghệ thuật của văn học trung đại Việt Nam với văn học các nước trong khu vực đồng văn Đông Á (Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản) cùng thời kỳ thế kỷ XVIII – XIX.
  • Đi sâu khai thác các dạng thức văn bản phê bình đặc thù như "luận thi thi" (thơ bàn về thơ) và các tập thi thoại chữ Hán để làm sáng tỏ hơn các quan niệm thi học, từ học chuyên biệt của từng nhóm tác giả.

Giá trị tham khảo

Đối tượng thụ hưởng

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Thuộc các chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học, Lịch sử văn hóa và Hán Nôm; cung cấp khung phương pháp luận liên ngành để tiếp cận văn bản cổ trung đại.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu: Giảng dạy các học phần Văn học trung đại Việt Nam, Thi pháp học lịch sử, Tiến trình văn học tại các trường đại học, viện nghiên cứu.
  • Biên tập viên, nhà xuất bản: Sử dụng trong công tác chú giải, biên tập và giới thiệu các tác phẩm văn học, lý luận cổ điển giai đoạn thế kỷ XVIII – XIX.

Nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu

  • Khung lý thuyết phân tích sự chuyển dịch từ ý thức nghệ thuật sang thực tiễn sáng tác (Chương 1).
  • Bức tranh tổng thuật chi tiết về bối cảnh lịch sử, sự phục hưng đô thị, văn hóa thị dân và sự khác biệt không gian văn hóa Đàng Ngoài – Đàng Trong (Chương 1).
  • Hệ thống luận giải về trào lưu chủ tình, sự biến đổi cặp phạm trù Đạo – Tình và các chức năng nghệ thuật mới (Chương 2).
  • Các khảo sát về ngôn ngữ song thể ngữ, hiện tượng phá vỡ quy phạm thể loại và thi pháp trần thuật trung đại (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn mô hình phân kỳ văn học trung đại nào và vì sao?

Luận án tiếp thu mô hình phân kỳ của Đoàn Lê Giang (Ý thức văn học cổ trung đại Việt Nam, 2001), chia văn học trung đại Việt Nam thành ba giai đoạn: Tiền kỳ trung đại (thế kỷ X – đầu thế kỷ XV), Trung kỳ trung đại (thế kỷ XV – cuối thế kỷ XVII), và Hậu kỳ trung đại (thế kỷ XVIII – cuối thế kỷ XIX). Luận án lựa chọn mô hình này vì phù hợp với mục tiêu trình bày sự vận động của ý thức nghệ thuật, trong đó cái mới hình thành từ thế kỷ XVIII duy trì mạch chảy xuyên suốt và phát triển đến hết thế kỷ XIX.

2. Khái niệm "nhà nho tài tử" được luận án sử dụng như thế nào để giải thích sự vận động văn học?

Kế thừa nghiên cứu của Trương Tửu (1944), Trần Đình Hượu (1995) và Trần Ngọc Vương (1995), luận án sử dụng khái niệm "nhà nho tài tử" như một công cụ loại hình học. Khác với nhà nho hành đạo và ẩn dật, nhà nho tài tử xuất hiện gắn liền với sự phát triển của kinh tế đô thị, đối lập Tài với Đức, Tình với Tính, coi trọng nhu cầu cá nhân và hưởng thụ trần tục. Đây là lực lượng sáng tác chủ chốt tạo ra các thể loại đậm chất văn nghệ như ngâm khúc, truyện thơ Nôm và hát nói.

3. Sự khác biệt không gian văn hóa Đàng Ngoài và Đàng Trong tác động thế nào đến ý thức nghệ thuật?

Đàng Ngoài mang tính ổn định nông thôn - cung đình truyền thống, nơi Nho giáo suy thoái tạo nên sự khủng hoảng tinh thần ở kẻ sĩ. Đàng Trong là vùng đất mới với quá trình Nam tiến, mang không gian "mềm", kinh tế thương mại tự do phát triển, dung nạp đa dạng nhân lực (người Hoa, người Nhật, giáo sĩ phương Tây), tạo điều kiện cho lối sống phong lưu, cởi mở, ít chịu sức ép từ khuôn mẫu Nho giáo Đàng Ngoài, dẫn đến sự bản địa hóa và đa dạng hóa ý thức nghệ thuật.

4. "Trào lưu chủ tình" trong văn học thế kỷ XVIII – XIX được xác định qua những biểu hiện nào?

Theo khung lý thuyết của Trần Nho Thìn mà luận án kế thừa, trào lưu chủ tình được biểu hiện trên ba phương diện: về quan niệm con người (xem con người là "nòi tình", "giống hữu tình", sống theo cảm xúc tự nhiên vượt lên danh giáo); về thể loại (sự nở rộ của ngâm khúc, truyện thơ Nôm, hát nói chuyên chở tình cảm cá nhân); và về quan niệm sáng tác (chủ trương thơ chú trọng tình cảm, cảm xúc chân thật, đề cao thuyết "tính linh").

5. Ba phương diện chính của ý thức nghệ thuật được luận án khảo sát là gì?

Ba phương diện chính gồm: (1) Ý thức về chức năng nghệ thuật (sự chuyển dịch từ "tải đạo" sang "ngôn tình", nhận thức về hiện thực và cách đọc hướng tình); (2) Ý thức về chất liệu nghệ thuật (sự biến đổi cấu trúc song thể ngữ Hán - Nôm và chuyển từ ngôn ngữ cao nhã sang ngôn ngữ thế tục); (3) Ý thức về cấu trúc nghệ thuật (sự biến đổi hệ thống thể loại, phá vỡ tính quy phạm, hình tượng nghệ thuật duy tình - duy mỹ - dị biệt, và mở rộng kết cấu trần thuật).


Kết luận

Luận án Tiến trình vận động của văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XVIII – XIX: từ ý thức nghệ thuật đến thực tiễn sáng tác đã khảo sát toàn diện sự chuyển biến của văn học giai đoạn hậu kỳ trung đại dựa trên khung phương pháp luận liên ngành. Công trình phục dựng hệ thống các nhân tố lịch sử, văn hóa đô thị và tư tưởng tác động đến sự thay đổi ý thức nghệ thuật của người cầm bút. Từ việc phân tích các văn bản lý luận cổ điển đến thực tiễn sáng tác, luận án làm sáng tỏ quy luật chuyển dịch từ điển phạm "tải đạo" sang trào lưu "chủ tình", cùng những biến đổi sâu sắc về ngôn ngữ song thể ngữ, hình tượng nghệ thuật và cấu trúc thể loại. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật đối với công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử văn học trung đại Việt Nam.