mở đầu sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 10 (Nxb Giáo dục, 2006) quan niệm văn học trung đại có hai giai đoạn lớn, trong đó giai đoạn thứ nhất từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XVII và giai đoạn hai từ thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX. Trần Nho Thìn trong giáo trình Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX (Nxb Giáo dục, 2012) cũng có cách phân kỳ tương tự nhằm chỉ ra sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người. Đoàn Lê Giang trong Luận án tiến sĩ Ý thức văn học cổ trung đại Việt Nam (2001) theo dõi sự phát triển của tư tưởng văn học trung đại Việt Nam theo ba giai đoạn, trong đó văn học thế kỷ XVIII – XIX là một giai đoạn (giai đoạn hậu kỳ). Mỗi cách phân kỳ đều dựa trên tiêu chí riêng và có cơ sở khoa học.
Việc lựa chọn một cách phân chia nào đó tùy thuộc vào mục đích và đối tượng nghiên cứu của người đứng ra phân kỳ. Trong luận án này, chúng tôi nhìn văn học thế kỷ XVIII – XIX từ góc độ ý thức nghệ thuật, nghĩa là xem xét sự thay đổi về mặt ý thức của tác giả đối với chức năng và đặc trưng văn học và tương ứng với nó là những thay đổi về thi pháp, thể loại, ngôn ngữ kéo dài từ đầu thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX. Vì lý do đó, chúng tôi lựa chọn khảo sát văn học của hai thế kỷ này như một tiến trình. Công tác sưu tầm và dịch thuật tài liệu có ý nghĩa rất lớn đối với việc nghiên cứu ý thức của tác giả trung đại về văn học, bao gồm văn học thế kỷ XVIII - XIX.
Năm 1963, trên Tạp chí Văn học số 12, nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Vân đã dịch và công bố Quan niệm văn học của một số nhà nho Việt Nam. Từ năm 1968 đến 1984, những bài dịch lời bạt, lời tựa, thư từ trao đổi giữa các nhà thơ, nhà văn xuất hiện rải rác trên Tạp chí Văn học. Nguyễn Huệ Chi, Trần Thị Băng Thanh giới thiệu về Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Sĩ; Hoàng Lê về Ninh Tốn, Phạm Thị Tú về Nguyễn Văn Siêu, Ngô Thì Chí; Trần Lê Sáng về Lê Thúc Hoạch; Chương Thâu về Cao Xuân Dực; Hồ Sĩ Hiệp về Miên Trinh, v. Công việc khó khăn ấy vẫn đang được tiếp nối.
Cuốn Từ trong di sản (những ý kiến về văn học từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XX ở nước ta) do Nguyễn Minh Tấn chủ biên (Nxb. Thế giới mới, năm 1981) và cuốn Người xưa bàn về văn chương (Tập 1) của Đỗ Văn Hỷ (Nxb. Khoa học xã 5 hội, năm 1993) đã tập hợp nhiều ý kiến bàn luận về văn chương thời trung đại. Đây là hai tập tư liệu quý giá cho bất kỳ nhà khoa học nào muốn nghiên cứu về ý thức nghệ thuật trong văn học trung đại Việt Nam.
Năm 2007, nhóm tác giả Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Cừ, Vũ Thanh, Trần Nho Thìn một lần nữa sưu tầm, tuyển chọn, sắp xếp và giới thiệu các bài tựa, bạt, thư từ trao đổi của các tác giả từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XX trong cuốn 10 thế kỷ bàn luận về văn chương (tập 1, Nxb. Khác với hai bộ sách trước, công trình ngoài giá trị về mặt tư liệu, còn có giá trị về mặt nghiên cứu. Sau phần giới thiệu các lời tựa, bạt là phần nhận xét, bình luận của người biên soạn nhằm chỉ ra những biểu hiện mới của ý thức nghệ thuật. Đó mới là cái xác định sự vận động của văn học qua các giai đoạn.
Thành tựu của công tác sưu tầm, dịch thuật đã cung cấp những bằng chứng thuyết phục nhất về sự tồn tại của một nền lý luận cổ điển trong văn học trung đại Việt Nam, cung cấp cho giới nghiên cứu tư liệu để nhìn nhận, đánh giá chính xác hơn về ý thức nghệ thuật của người xưa. Quan niệm văn học, quan niệm thẩm mỹ từng xuất hiện vào thế kỷ XVIII – XIX là những vấn đề được quan tâm trong nhiều công trình nghiên cứu, từ các bài báo đến các bộ văn học sử, giáo trình, chuyên luận, luận văn, luận án. Nội dung nghiên cứu có thể giới hạn trong phạm vi một tác gia, một giai đoạn, hoặc một thể loại. Trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 4, năm 1960, Trần Thanh Mại viết bài “Tìm hiểu quan điểm văn học của Lê Quý Đôn”.
Thời gian sau, Trần Nghĩa viết bài “Góp phần tìm hiểu quan niệm “Văn dĩ tải đạo” trong văn học cổ Việt Nam” (Tạp chí Văn học (TCVH) số 2/1970), Vũ Đình Liên viết bài “Từ nhân sinh quan đến thẩm mỹ quan của Nguyễn Đình Chiểu” (TCVH số 1/1972), Trần Lê Sáng viết về “Thi ngôn chí” (TCVH số 1/1973), Đỗ Đức Dục viết bài “Tuyên ngôn sáng tác của Nguyễn Du” (TCVH số 2/1984), v. Về công trình nghiên cứu, năm 1964, giáo trình Văn học cổ Việt Nam của Đinh Gia Khánh có viết một phần về quan niệm “Văn dĩ tải đạo”. Năm 1970, công trình Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Lê Đình Kỵ được xuất bản, trong đó đặt ra vấn đề về quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Du. Nguyễn Lộc trong bộ sách Văn học Việt Nam nửa cuối 6 thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX gồm 2 tập do Nxb.
Đại học Trung học chuyên nghiệp xuất bản lần đầu năm 1976, 1978 (khi Nxb. Giáo dục xuất bản lại, được in chung với bộ Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX và lấy nhan đề Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII – hết thế kỷ XIX)) đã xác định rõ đặc trưng cơ bản của văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX là “sự khám phá ra con người và khẳng định những giá trị chân chính của con người” [122, tr. Ông nhấn mạnh: “Đối với văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, nói đặc trưng cơ bản có tính lịch sử của nó là khám phá ra con người, khẳng định những giá trị chân chính của con người, có nghĩa là nói đến giai đoạn này con người với tất cả sự phong phú của nó mới trở thành đối tượng chủ yếu, hàng đầu trong nhận thức của văn học, và điều đó đem lại cho văn học sự đổi mới về nhiều mặt” [122, tr. Đây là một ý kiến quan trọng xác lập sự khác biệt về chất giữa văn học thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX với văn học các giai đoạn khác.
Cũng qua bộ sách này, nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc đã phân tích quan điểm sáng tác của nhiều tác giả thuộc văn học thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX như Ngô Thì Vị, Lê Quý Đôn, Cao Bá Quát, Bùi Dương Lịch. Ông viết: “Nếu tìm hiểu kỹ quan điểm văn học của các tác giả đương thời cũng có thể thấy được chừng mực nào sự chuyển biến trong quan niệm của họ. Khá nhiều nhà thơ trong giai đoạn này hay nói đến quan niệm "người cùng thì thơ mới hay”” [122, tr. Nhà nghiên cứu chỉ ra đề cao tình cảm là một biểu hiện độc đáo trong quan điểm sáng tác của nhiều nhà thơ: “Một quan điểm nữa cũng được các nhà thơ giai đoạn này nói đến là thơ phải biểu hiện tình cảm, phải có cảm xúc” [122, tr.
“Lê Quý Đôn chủ trương làm thơ phải chú trọng đến ba phương diện là "tình, cảnh và sự". Có thể nói quan niệm này về thực chất trái với quan niệm thi ngôn chí của Nho giáo” [122, tr. 7 “Cao Bá Quát không phải chỉ làm nhiều thơ mà còn phát biểu nhiều suy nghĩ của mình về thơ nữa. Ông quan niệm thơ có quy củ của nó, nhưng cơ sở của sáng tác thơ bao giờ cũng là tình cảm, là cảm xúc.
Có tình cảm chân thực, có cảm xúc dồi dào, thơ mới hay, chứ bắt chước người khác, cảm xúc giả tạo thì dù có công phu đến mấy cũng không thể làm thơ hay được” [122, tr. Năm 1980, trong công trình Cao Bá Quát – con người và tư tưởng (Nxb. Khoa học xã hội), Nguyễn Tài Thư cũng đã chú ý đến quan niệm nghệ thuật của nhà thơ. Điểm chung ở các công trình nghiên cứu được triển khai theo lí luận Marxist là đều nhìn nhận tiến trình văn học như sự thay thế của các phương pháp sáng tác nghệ thuật.
Quan niệm văn học, quan niệm thẩm mỹ là cơ sở để lý giải sự xuất hiện của phương pháp sáng tác mới, tiến bộ, vì thế, chúng gắn với nhân dân lao động, với chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo. Chẳng hạn, Lê Đình Kỵ nhận xét về Nguyễn Du như sau: “Mỹ học xưa lấy “văn dĩ tải đạo” làm mục đích và phương châm sáng tác. Truyện Kiều cũng làm cái việc tải đến cho người đọc cái đạo của nó, đó là cái đạo lý làm người, con người sống thực với những thăng trầm, vinh nhục trần thế. Trong giới hạn của thời đại mình, và với những ràng buộc không tránh khỏi của mỹ học đương thời, Nguyễn Du dám nhìn thẳng vào thực tế và từ cái dòng đời có trong có đục, đã dũng cảm, trung thực làm việc gạn đục khơi trong, làm toát lên cái đẹp sinh động về cuộc sống và con người” [106, tr.
Năm 1982, Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội nghị khoa học nhân kỷ niệm 160 năm ngày sinh của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Thu hút gần 120 bài tham luận, hội thảo đánh dấu một bước tiến mới đối với việc nghiên cứu hệ thống, toàn diện cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu. Trong hội nghị, Mai Cao Chương qua bài viết “Tìm hiểu quan điểm văn học của Nguyễn Đình Chiểu và sự vận dụng quan điểm đó vào thực tiễn sáng tác của ông” khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức của nhà thơ và thực tiễn 8 sáng tác, đồng thời đánh giá cao tính chiến đấu và tính nhân dân trong quan niệm “Văn dĩ tải đạo” của Đồ Chiểu: “Có thể kết luận rằng quan niệm “đạo” trong thơ văn yêu nước chống Pháp của Nguyễn Đình Chiểu thực chất là yêu nước thương dân” [254, tr. “Quan điểm “chở đạo” của Nguyễn Đình Chiểu gắn rất chặt với thực tiễn sáng tác của ông, và được khái quát lên từ thực tiễn sáng tác ấy.
Nhưng thực tiễn sáng tác lại không phải là cái gì đó tồn tại độc lập. Trái lại, nó có quan hệ chặt chẽ với nhà thơ, nó là sản phẩm tinh thần của người cầm bút” [254, tr. Lê Trí Viễn trong chuyên luận Nguyễn Đình Chiểu: Ngôi sao càng nhìn càng sáng (Nxb.