Chương 1 GIỚI THUYÉT CHUNG 1. Nguyên lí chung của văn học so sánh 1. Khái niệm văn học so sánh Thuật ngữ “Văn học so sánh” đã xuất hiện sớm trên thế giới từ thế kỷ XVIII và được sử dụng nhiều từ đầu thế kỷ XX. Có thê định nghĩa văn học so sánh như sau: “Van học so sánh là một bộ môn văn học sử nghiên cứu các mối quan hệ giữa các nên văn học dân tộc ” (hay các nên văn học quốc gia).
Và trong “các mối quan hệ giữa các nên văn học dân tộc ”, không chỉ là mối “quan hệ trực tiếp ” ma con ca các mỗi “quan hệ đồng đẳng”, giữa các hiện tượng có sự tương đồng, và các mối “quan hệ độc lập”, giữa các sự tương quan khác biệt, đặc thù của văn học dân tộc khi được đem ra so sánh, từ đó giải quyết vẫn đề của văn học, của lịch sử - xã hội. Việt Nam là một nước có 54 dân tộc anh em trong một quốc gia, các dân tộc luôn đoàn kết trong một chỉnh thé, đúng như câu nói: “Dân tộc Việt Nam là một”. Theo quy ước văn học so sánh: “ăn học so sánh là bộ môn văn học sử nghiên cứu các mối quan hệ giữa các nên văn học dân tộc”, mà trong từ điên Tiếng Việt “dân tộc” cô nghĩa là: “tộc người” và “quốc gia”. Trai qua quá trình lịch sử, các chặng đường phát triển, văn học so sánh đã xuất hiện ở Việt Nam.
Chúng ta có thé tự ý thức khẳng định chỗ đứng của mình trong quan hệ quốc tế thông qua phương thức so sánh. Như Hoài Thanh đã từng so sánh “Thơ Mới với thơ ca phương Tây”, trong cuỗn “7h nhân Việt Nam”, từ sự ảnh hưởng của thơ Đường Trung Quốc, hay trường phái thơ Pháp. Nhưng bên cạnh ảnh hưởng, là sự sáng tạo dựa trên yếu tố dân tộc, truyền thống, tiếp thu có sáng tạo, tạo nên nhiều nhân tô mới. Ngày nay quan niệm mới về so sánh và cấp độ nghiên cứu so sánh đã được mở rộng.
Nó không chỉ đừng là văn học quốc gia “văn học sử dân tộc”. Mà đỗi tượng so sánh, cấp độ có thể được hình thành từ quy mô địa phương: “w„y mô truyền thống văn học địa phương, văn học truyền khẩu, các ngôn ngữ bản xứ”, cho đến quy mô của châu lục, thế giới, vượt qua quy mô của quốc gia. Nhà văn Bồ Đào Nha Miguel Torga, đã định nghĩa phạm vi của thuyết so sánh mới này như sau: 10 “Cái thế giới đó chính là cái địa phương không có những bức tường”[16, tr. Trong văn học dân tộc luôn có sự tiếp nối và phát triên: “Kết hợp cái dân tộc với cái quốc tế, cái truyền thống với cái hiện đại”.
Ngày nay phương pháp, và phương diện, đối tượng so sánh rất phong phú, mở rộng. Giả sử khi ta xét so sánh trong một nền văn học, của quốc gia, thì việc so sánh, xác định cần thực hiện dưới góc độ của lich sử đân tộc. Mà để xác định cái đặc thù dân tộc, chúng ta không chỉ căn cứ vào yếu tố truyền thống của dân tộc, mà dựa trên cả sự cách tân, mới lạ. Những yếu tố này sẽ thê hiện ở cả hai mặt nội dung và hình thức.
Mục đích của văn học so sánh: “Xác định tính khái quát của văn học nhân loại và chứng mình, khẳng định tính đặc thù của các nên văn học dân tộc”. Chúng ta thay “So sánh không chỉ là tìm ra nguồn gốc vay mượn những ảnh hưởng trực tiếp, mà còn đề chỉ ra những điểm giống nhau giữa các hiện tượng văn học, được so sánh mà nhiều khi do hoàn cảnh thực tiễn đòi hỏi và người ta muốn so sánh dé chứng mình sự khác biệt giữa các hiện tượng văn học ”[19, tr. Sự khác biệt về nội dung, tư tưởng hoặc đối tượng phản ánh với những cảm thức riêngcó khi nằm ngay trong các tác phâm cùng một thể loại văn học. Đối tượng của văn học so sánh: “Là những mối quan hệ của các hiện tượng văn học từ nên văn học quốc gia này sang một hay nhiều nễn văn học của quốc gia khác, rỗi tiếp đến nghiên cứu những mối quan hệ văn học của những tập hợp liên quốc gia, siêu quốc gia, từ nghiên cứu văn học đến văn hóa”[I, tr.
Đỗi tượng văn học so sánh hướng tới: “Văn học so sánh vừa tim cdi chung, cái tương dong cua thực tại” [1, tr.77] và vừa hướng tới: “cái ban sắc, cái da dang, cai khác biệt trong cái chung đó với phương pháp khu biệt”. Từ đó có thể thay: “Vừa hướng tới cái thông nhất, cái đơn nhất trong sự đa dạng của những khác biệt, ngược lại nó đi từ những hiện tượng khác biệt để tiến đến khái quát các chuỗi của cái chung ” [37, tr. Ma Trường Nguyên và Võ Sa Hà là hai nhà thơ đã có những đóng góp trong dòng chảy văn học Dân tộc thiểu số và văn học miền núi. Tác phẩm thơ của họ đã được lựa chọn để giảng dạy trong chương trình ngữ văn địa phương trên tỉnh Thái Nguyên.
Cả hai nhà thơ có điểm tương đồng với nhau như đều sinh ra và gắn bó với 11 miễn núi ngay từ nhỏ vì vậy cả hai mang đậm trong mình tâm hồn người miền núi. Mặc dù nhà thơ Võ Sa Hà là người Kinh gắn bó với mảnh đất Cao Bằng từ thuở mới lọt lòng, nhưng dấu ấn của quê, phong tục và bản sắc đã ảnh hưởng và trở thành những biểu tượng quen thuộc lặp đi lặp lại trong sáng tác của mình. Nhưng cũng có những điểm khác nhau và sự đóng góp riêng. Vì vậy nghiên cứu thơ Ma Trường Nguyên và Võ Sa Hà dưới góc nhìn so sánh không chỉ ra sự giỗng và khác nhau của họ trong sáng tác mà còn thấy được những đóng góp to lớn và có ý nghĩa đối với văn học Dân tộc thiểu số và văn học miễn núi.
Mục dich so sánh thơ Ma Trường Nguyên và Võ Sa Hà Theo Từ điển tiếng Việt: “Tương đồng là giống nhau” (Bên cạnh những cái khác nhau). Ma Trường Nguyên và Võ Sa Hà là hai tác giả đều lớn lên trong giai đoạn đất nước còn nhiều khó khăn, chiến tranh chống Mỹ cứu quốc gian khô - trường kỳ và chiến tranh biên giới Việt — Trung. Cả hai nhà thơ từng sống trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ vì vậy họ đã thắm đượm cảnh chia ly, mất mát và sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh. Cuộc chiến tranh không chỉ tạo ra dư âm hy sinh bề nổi của hiện thực mà sâu trong tâm hồn là sự tang thương, chia ly, ngậm ngùi.
Cả hai nhà thơ đã đi sâu vào tìm hiểu từng ngõ ngách của đời sống, từ quê hương, rộng tới chân trời tổ quốc, từ thiên nhiên tới con người và bản sắc văn hóa của dan toc. Tat cả đã được đi vào trang văn, trang thơ rất hiện thực, sống động. Vì vậy hoàn cảnh lịch sử cũng phần nào là cơ sở để hai nhà thơ có cùng nguồn cảm hứng như: “Cảm thức về quê hương đất nước - con người - bản sắc dân tộc”. Nhưng nếu chỉ hiện thực không thì chưa đủ, khi nghiên cứu và đọc các tác phâm tìm hiểu yếu tổ quê hương, gia đình, cuộc đời của hai tác giả, ta thấy phần nào sự ảnh hưởng tới quan điểm sáng tác riêng của nhà văn.
Mặt khác hai nhà thơ Ma Trường Nguyên và Võ Sa Hà đều gắn bó với miền núi, Ma Trường Nguyên là nhà văn, nhà thơ người dân tộc thiêu số nên cách viết và sự tự duy của ông mang đậm tâm hồn người dân tộc thiểu số. Vì vậy giữa hai nhà thơ ngoài sự tương đồng trong việc lựa chọn đối tượng phản ánh thì nội dung sáng tác cũng như nghệ thuật diễn đạt của họ khác nhau. 12 Khi đọc thơ của Võ Sa Hà người đọc sẽ nhập vào mình một hồn thơ rất cô đơn và luôn có sự hoài niệm. Có lẽ xuất phát một phần từ sự không may mắn như các nhà văn khác cũng như tuổi thơ ông lớn lên trong sự thiếu thốn tình cảm.
Nhà thơ đã mồ côi mẹ khi chưa đầy tháng tuôi và sống với cha người đã lam lung vat va để chăm lo cho con. Rồi xoay quanh theo chiều thời gian chuyển động, ông chứng kiến sự hi sinh của bao người con anh hùng, sự mất mát ông bà, và lớn lên khi vào năm đầu đại học là sự ra đi của người cha kính yêu nhất. Có lẽ hoàn cảnh ấy đã phần nào tạo nên hồn thơ Võ Sa Hà với nhiều sự hoài niệm và sự chiêm nghiệm trong cuộc sống. Yếu tổ quê hương cũng là một phần đã tạo nên cái độc đáo của nhà thơ, quê cha ở Thị Cầu - Bắc Ninh, nhưng ngay từ khi sinh ra ông đã được gắn bó với mảnh đất Cao Bằng, mảnh đất ấy chính là ngọn nguồn dòng sữa văn hóa, cũng là đã trơ thành đối tượng sáng tác vô tận của nhà thơ.
Ma Trường Nguyên là nhà văn có tỉnh thần trách nhiệm ông luôn quan tâm đến sứ mệnh của nghệ thuật và vai trò của người nghệ sĩ trong quá trình thực hiện và truyền tải nó. Một người nghệ sĩ chân chính là người vượt qua mọi sự cám dỗ, vượt qua tư tưởng cá nhân để gieo vào những tắm lòng cao quý, nhiệt tình. Ma Trường Nguyên là nhà văn trưởng thành từ trong chiến tranh, trải qua năm tháng chiến đấu gian khổ khắp mọi miền đất nước : Thanh Hóa, Nghệ An, Miền Nam, xuôi ngược nhiều miền. Nên đất nước, dé được độc lập như thời khắc này đây, là sự hy sinh, sự công hiến, có gắng của toàn Đàng và toàn Dân.
Điều này ông đã gói trọn trong tập trường ca “Mái xanh rừng cọ”, và một số bài thơ trong tập “Tiếng lá rừng gọi đôi”. Là người con gắn bó trên mảnh đất Thái Nguyên giàu truyền thống, và là nơi ngụ cư của nhiều đồng bào dân tộc thiêu số. Nên ông sớm tiếp thu tỉnh hoa văn hóa dân gian dân tộc Tày, Nùng, Kinh nên trong thơ của Ma Trường Nguyên mang đậm văn hóa dân gian dân tộc Tày. Cũng như các nhà thơ đương thời như: “Nông Viết Toại, Nông Quốc Chấn, Y Phương ”.nhà thơ rất chân quý quê hương, con người và văn hóa đặc trưng dân tộc.
Đây cũng trở thành nguồn cảm hứng sáng tác tương đồng giữa hai nhà thơ Ma Trường Nguyên và Võ Sa Hà. Nhưng không phải cảm xúc nhà thơ nào cũng giống nhau, giống nhau hoàn toàn sẽ không thể làm nên giá trị riêng của tác phẩm.