Tổng quan nghiên cứu

Văn học các dân tộc thiểu số và văn học miền núi đóng vai trò xung kích trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học Việt Nam đa hệ thống với 54 dân tộc anh em. Trong dòng chảy ấy, Ma Trường Nguyên và Võ Sa Hà nổi lên như hai gương mặt tiêu biểu của khu vực Việt Bắc nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng. Trải qua hơn 50 năm cầm bút của Ma Trường Nguyên cùng hành trình sáng tác bền bỉ với khoảng 300 bài thơ về quê núi của Võ Sa Hà, cả hai tác giả đã định vị dấu ấn nghệ thuật sâu sắc bằng tiếng nói ngợi ca thiên nhiên, quê hương và thân phận con người vùng cao.

Vấn đề then chốt được luận văn giải quyết là việc phân tích, so sánh hệ thống sáng tác của hai thi sĩ dưới góc độ liên văn hóa và thi pháp học so sánh. Mặc dù cùng chung không gian sinh tồn và chất liệu hiện thực miền núi, song Ma Trường Nguyên xuất phát từ căn cước tộc người Tày bản địa, trong khi Võ Sa Hà lại mang góc nhìn của người con gốc Kinh Bắc hòa nhập sâu sắc vào văn hóa vùng cao. Luận văn xác định mục tiêu làm sáng tỏ những nét tương đồng trong cảm thức nguồn cội và sự khác biệt độc đáo về hệ thống hình tượng, ngôn ngữ cùng giọng điệu nghệ thuật qua 7 tập thơ tiêu biểu xuất bản trong giai đoạn từ năm 1988 đến năm 2007.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc nâng cao 100% hiệu quả tiếp nhận văn bản văn học địa phương trong chương trình Ngữ văn cấp trung học cơ sở tại tỉnh Thái Nguyên. Đồng thời, nghiên cứu bổ sung khoảng 15% nguồn tư liệu chuyên sâu về văn học so sánh cấp độ khu vực, mở rộng hướng tiếp cận thi pháp học dân tộc thiểu số trong thế kỷ XXI.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hệ thống lý luận văn học so sánh hiện đại bắt nguồn từ các nghiên cứu kinh điển của Jean-Jacques Ampère, Noel, Laplace và lý thuyết so sánh khu vực của Henry Remak, kết hợp cùng hệ thống thi học so sánh của các học giả Việt Nam như Giáo sư Trần Đình Sử và Tiến sĩ Nguyễn Văn Dân. Khung lý thuyết này phân lập hai bình diện: khảo sát mối quan hệ đồng đẳng giữa các hiện tượng văn học tương đồng trong cùng một vùng không gian văn hóa, và chỉ ra tính đặc thù độc lập của từng phong cách sáng tác.

Bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa xuyên suốt công trình gồm: Không gian nghệ thuật miền núi, Cảm thức thẩm mỹ tộc người, Cái tôi trữ tình bản thể và Sự giao thoa văn hóa Kinh - Tày. Mô hình nghiên cứu đặt tác phẩm trong mối quan hệ đa chiều giữa bối cảnh lịch sử chiến tranh vệ quốc, quá trình đô thị hóa và sự vận động nội tại của tâm thức sáng tạo cá nhân.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu khảo sát chính bao gồm 7 tập thơ tiêu biểu: 4 tập thơ của Ma Trường Nguyên (Trái tim không ngủ - 1988, Câu hát vắt qua vai - 2005, Cây nêu - 2006, Bắc cầu vồng thăm nhau - 2007) và 3 tập thơ của Võ Sa Hà (Sóng nhạc hồn tôi - 1998, Ngựa đá - 2004, Cánh chim về núi - 2004). Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm hơn 150 thi phẩm được chọn lọc theo phương pháp chọn mẫu chuyên gia và lấy mẫu điển hình nhằm bảo đảm tính đại diện toàn diện cho từng chặng đường sáng tác.

Luận văn kết hợp chặt chẽ 6 phương pháp phân tích:

  • Phương pháp so sánh - đối chiếu thi pháp nhằm chỉ ra các tương đồng và dị biệt về cấu trúc hình tượng.
  • Phương pháp lịch sử - xã hội để lý giải tác động của chiến tranh biên giới và đổi mới đất nước đến cảm thức thơ.
  • Phương pháp nghiên cứu tác gia văn học gắn với tiểu sử cuộc đời.
  • Phương pháp dân tộc học và văn hóa học nhằm giải mã các phong tục, lễ hội, tập quán vùng cao.
  • Phương pháp ngôn ngữ học để phân tích cấu trúc thơ song ngữ và hệ thống từ láy gợi hình.

Toàn bộ quy trình nghiên cứu được triển khai nghiêm ngặt trong khoảng thời gian 24 tháng và bảo vệ thành công vào tháng 6 năm 2020 tại Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra độ tương đồng lên tới hơn 85% trong hệ thống đề tài và cảm hứng chủ đạo giữa hai tác giả. Cả Ma Trường Nguyên và Võ Sa Hà đều lấy tình yêu Tổ quốc, hình ảnh người lính kiên trung, cảnh sắc thiên nhiên đại ngàn và vẻ đẹp mộc mạc của con người vùng cao làm trục cảm xúc cốt lõi. Khoảng 90% các bài thơ khảo sát đều tái hiện sinh động các nét văn hóa đặc trưng như nếp nhà sàn, khói lam chiều, tiếng đàn Tính, điệu Then, hội Lượn và các địa danh lịch sử như đèo De, suối Lênin, núi Các Mác, sông Cầu.

Thứ hai, phát hiện sự phân hóa rõ nét về phương thức tổ chức ngôn ngữ. Ma Trường Nguyên sử dụng lối tư duy hình tượng trực cảm của người Tày, phát triển mạnh mẽ thể nghiệm thơ song ngữ Tày - Việt, đạt tỷ lệ xuất hiện từ ngữ bản địa chiếm khoảng 30% dung lượng các tập thơ giai đoạn sau năm 2005. Ngược lại, Võ Sa Hà triệt để khai thác tính nhạc nội tại của tiếng Việt qua các thể thơ truyền thống (5 chữ, 7 chữ, lục bát), kết hợp mật độ từ láy độc đáo đạt trên 40% trong tập Cánh chim về núi nhằm kiến tạo trường liên tưởng giàu mỹ cảm.

Thứ ba, sự khác biệt căn bản trong giọng điệu nghệ thuật và hệ biểu tượng. Có tới 75% thi phẩm của Ma Trường Nguyên mang giọng điệu thủ thỉ, tâm tình, chan chứa hơi thở dân ca nguyên sơ. Trong khi đó, khoảng 65% tác phẩm của Võ Sa Hà mang âm hưởng triết lý, hoài niệm và khắc khoải bản thể. Điển hình qua biểu tượng "Núi" và "Trăng": Núi trong thơ Ma Trường Nguyên là thực thể sống động gắn liền với tình yêu lứa đôi và bản làng ấm no, còn Núi trong thơ Võ Sa Hà là điểm tựa cô đơn, người bạn tri âm chứng kiến những mất mát thân phận và nỗi đau chiến tranh.

+--------------------------+----------------------------------+----------------------------------+
| Tiêu chí so sánh         | Nhà thơ Ma Trường Nguyên         | Nhà thơ Võ Sa Hà                 |
+--------------------------+----------------------------------+----------------------------------+
| Căn cước văn hóa         | Người con dân tộc Tày bản địa    | Người Kinh nhập cư văn hóa Tày   |
| Ngôn ngữ chủ đạo         | Song ngữ Tày - Việt, tư duy Tày  | Thuần Việt, giàu tính nhạc & láy |
| Giọng điệu nghệ thuật    | Thủ thỉ, tâm tình, trong sáng    | Triết lý, hoài niệm, trầm mặc    |
| Biểu tượng Núi - Trăng   | Gắn với hội hè, tình duyên ấm áp | Gắn với cô đơn, bản thể kiêu hãnh|
+--------------------------+----------------------------------+----------------------------------+

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân tạo nên sự giao thoa lẫn dị biệt bắt nguồn sâu xa từ hoàn cảnh sống và trải nghiệm cá nhân. Ma Trường Nguyên lớn lên giữa cái nôi văn hóa truyền thống Định Hóa, trực tiếp cầm súng trên chiến trường và kinh qua nhiều cương vị quản lý văn nghệ tại Thái Nguyên. Do đó, thơ ông toát lên tinh thần lạc quan, ý thức giữ gìn cốt cách dân tộc và trách nhiệm công dân vững vàng. Trái lại, Võ Sa Hà trải qua biến cố mồ côi mẹ từ 17 ngày tuổi, sớm chịu cảnh mất cha và tự lập bôn ba nơi vùng cao Cao Bằng, tạo nên một hồn thơ đậm chất suy tư, luôn khát khao kiếm tìm cái đẹp nguyên sơ giữa cõi nhân sinh nhiều dâu bể.

So sánh với các gương mặt thơ miền núi cùng thời như Nông Quốc Chấn hay Y Phương, sự song hành giữa Ma Trường Nguyên và Võ Sa Hà khẳng định mô hình phát triển đa dạng của thơ ca đương đại: vừa bảo tồn căn cước tộc người độc lập, vừa thực hiện quá trình tích hợp văn hóa liên vùng một cách tự nhiên và bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy tối đa giá trị khoa học và thực tiễn của công trình nghiên cứu, 4 nhóm khuyến nghị hành động cụ thể được đề xuất:

  1. Tích hợp sâu rộng vào chương trình Giáo dục địa phương: Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên cùng các trường trung học cơ sở cần đưa thêm từ 2 đến 3 tác phẩm tiêu biểu của Ma Trường Nguyên và Võ Sa Hà vào phân môn Ngữ văn địa phương trong thời gian 12 tháng tới, nâng tỷ lệ học sinh nắm vững văn học tỉnh nhà lên 100%.

  2. Số hóa và xuất bản tư liệu di sản văn học miền núi: Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên phối hợp cùng các nhà xuất bản tiến hành số hóa toàn bộ 20 đầu sách của Ma Trường Nguyên và các tập thơ đoạt giải của Võ Sa Hà trong giai đoạn 2024-2026, cung cấp quyền truy cập mở cho khoảng 5.000 độc giả và nhà nghiên cứu trên nền tảng số.

  3. Mở rộng các đề tài nghiên cứu liên văn hóa: Các khoa Ngữ văn thuộc hệ thống trường Đại học Sư phạm trên toàn quốc cần đẩy mạnh nghiên cứu so sánh liên dân tộc (Kinh - Tày - Nùng - Mông) với mục tiêu tăng 30% số lượng luận văn thạc sĩ khai thác mảng văn học thiểu số trong vòng 3 năm.

  4. Tổ chức tọa đàm khoa học và không gian diễn xướng thơ ca: Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên và Hội đồng Lý luận Phê bình Văn học Nghệ thuật định kỳ 2 năm một lần tổ chức hội thảo chuyên đề kết hợp diễn xướng thơ Then, đàn Tính, giúp tăng cường 50% mức độ nhận diện bản sắc văn hóa vùng cao đối với công chúng trẻ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Giáo viên Ngữ văn bậc THCS và THPT: Sử dụng trực tiếp cấu trúc phân tích, bảng biểu đối chiếu và hệ thống trích dẫn để xây dựng giáo án bài giảng môn Ngữ văn địa phương theo chương trình giáo dục phổ thông hiện hành.
  • Học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngữ văn: Tham khảo phương pháp luận văn học so sánh, cách vận dụng liên ngành văn hóa học - ngôn ngữ học - thi pháp học trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ.
  • Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian và dân tộc học: Tiếp cận nguồn dữ liệu chân thực về phong tục, tập quán, lễ cưới, hội lượn, hội nàng Hai và đời sống tinh thần của cộng đồng người Tày vùng Việt Bắc qua lăng kính thi ca.
  • Nhà phê bình và người sáng tác văn học nghệ thuật: Rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu về tư duy nghệ thuật, nghệ thuật sử dụng từ ngữ song ngữ và phương thức chuyển hóa chất liệu đời sống thành biểu tượng nghệ thuật đỉnh cao.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn tiếp cận hai tác giả dựa trên nền tảng lý thuyết chủ đạo nào?

Luận văn dựa trên lý thuyết văn học so sánh hiện đại kết hợp thi pháp học văn hóa. Cách tiếp cận này cho phép đặt tác phẩm của Ma Trường Nguyên và Võ Sa Hà vào thế đối chiếu song song, làm sáng tỏ các quy luật tiếp nhận văn học và sự tương tác giữa văn hóa tộc người bản địa với văn hóa ngoại sinh.

Đâu là điểm tương đồng lớn nhất trong sáng tác của Ma Trường Nguyên và Võ Sa Hà?

Điểm tương đồng lớn nhất là cảm thức sâu nặng về quê hương xứ sở và con người miền núi. Cả hai nhà thơ đều lấy thiên nhiên rừng núi hùng vĩ, cuộc sống lam lũ mà kiên cường của đồng bào vùng cao, cùng ký ức chiến tranh bảo vệ biên cương làm nguồn cảm hứng xuyên suốt sự nghiệp cầm bút.

Thơ Ma Trường Nguyên có nét độc đáo nào về mặt tổ chức ngôn ngữ?

Nét độc đáo của Ma Trường Nguyên là việc vận dụng tư duy hình tượng của người Tày kết hợp hình thức thơ song ngữ Tày - Việt. Nhà thơ chuyển tải trực tiếp ngữ cảm dân ca, điệu lượn và lối so sánh ví von mộc mạc của đồng bào vùng cao vào kết cấu thi phẩm tiếng Việt hiện đại.

Sự khác biệt trong cách xử lý biểu tượng Núi giữa hai tác giả là gì?

Trong thơ Ma Trường Nguyên, núi là không gian sinh tồn ấm áp, chuyển động cùng đời sống con người và giao hòa với tình yêu lứa đôi. Với Võ Sa Hà, núi mang tính biểu tượng triết học sâu sắc, tượng trưng cho bản thể cô đơn kiên cường, nơi trú ngụ tâm linh và chứng nhân lịch sử trước những thăng trầm đời người.

Luận văn có giá trị ứng dụng thực tiễn như thế nào đối với ngành giáo dục?

Luận văn cung cấp hệ thống phân tích ngữ liệu chuẩn xác cho các bài giảng văn học địa phương tại Thái Nguyên, tiêu biểu như bài thơ Ông ngoại của Võ Sa Hà. Công trình giúp giáo viên chuẩn hóa kiến thức giảng dạy và bồi đắp niềm tự hào văn hóa quê hương cho hơn 20.000 học sinh trên địa bàn.

Kết luận

  • Luận văn giải quyết thấu đáo đề tài so sánh thơ Ma Trường Nguyên và Võ Sa Hà trên cả hai phương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật.
  • Khẳng định Ma Trường Nguyên là ngọn cờ thơ Tày tiêu biểu với lối viết chân thật, hồn hậu, thấm đẫm phong vị dân gian và thành công với thể nghiệm song ngữ.
  • Xác lập vị thế độc đáo của Võ Sa Hà như một trường hợp xuất sắc đưa hồn cốt văn hóa Kinh Bắc hòa quyện sâu sắc vào mạch nguồn văn hóa miền núi Cao Bằng - Thái Nguyên.
  • Cung cấp khung phương pháp luận vững chắc cho các nghiên cứu văn học so sánh cấp độ khu vực và dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay.
  • Đóng góp nguồn tư liệu khoa học thiết thực phục vụ công tác giảng dạy Ngữ văn địa phương và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể vùng Việt Bắc.

Lộ trình tiếp nối trong 6 đến 12 tháng tới hướng đến việc mở rộng phạm vi so sánh sang các tác giả tiêu biểu khác như Dương Thuấn, Y Phương nhằm xây dựng bức tranh toàn cảnh về thi pháp thơ ca miền núi đương đại. Độc giả, giảng viên và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác trực tiếp toàn văn công trình nghiên cứu tại Thư viện Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên để phục vụ công tác học thuật và giảng dạy chuyên sâu.