Chương 1: Ba Kim và Tuy fưởng lục trong nền văn học đương đại Trung Quốc và thế giới 1. Nhà văn Ba Kim 1. Tác phẩm Tùy fưởng lục 1. Tình hình dịch thuật và tiếp nhận 7y tong lục trên thế giới 1.
Xác định bản gốc nguyên tác cho bản dịch Việt ngữ Chương 2: Nguyên tác và bản dịch 7y tong lục từ bình diện so sánh cấu trúc tác pham 2. Cau trúc nguyên tác Tùy tưởng lục 2. Cau trúc bản dịch Tùy tưởng lục 2. Những phương diện tái câu trúc tác phẩm Chương 3: Nguyên tac va ban dịch Tuy fưởng lục từ bình diện so sánh quan niệm tiếp nhận 3.
Quan niệm và hành trình tiếp nhận tác phẩm 7y trong lục ở Trung Quốc 3. Quan niệm tiếp nhận Tay trong lục ở Việt Nam 3. Những tương đồng và biến đối trong tiếp nhận nguyên tác và bản dịch Tùy tưởng lục 10 Chương | BA KIM VÀ TUY TƯỞNG LUC TRONG NEN VĂN HỌC DUONG ĐẠI TRUNG QUOC CUNG NHƯ SUC ANH HUONG TREN THE GIỚI 1.1 Nha van Ba Kim 1.1 Cuộc đời va sự nghiệp van chương Ba Kim tên thật Lý Nghiêu Đường, sinh năm 1904, từ trần năm 2005, thọ 102 tuổi. Gia đình ông vốn khá giả ở Thanh Đô, tinh Tứ Xuyên, Trung Quốc.
Đại văn hào Lỗ Tan đã ca ngợi Ba Kim là một nhà văn nhiệt tình, có tư tưởng tiền bộ, một trong số ít nhà văn giỏi có thể đếm được trên đầu ngón tay. Đề ghi nhận những công lao, cống hiến của ông với nền văn học Trung Quốc, Quốc vụ viện (Chính phủ) Trung Quốc đã quyết định phong tặng ông danh hiệu “Nhà văn Nhân dân” nhân dip sinh nhật lần thứ 100 của ông. Với tư cách là bậc thầy trên văn đàn Trung Quốc, sự nghiệp sáng tác văn học của ông rất phong phú. Tuổi thanh niên, Ba Kim vào học ở Trường Ngoại ngữ Thành Đô năm 1920, đến năm 1923 ông từ bỏ gia đình phong kiến của mình ra đi rồi vào học các trường trung học ở Nam Kinh, Thượng Hải.
Năm 1927, ông sang Pháp du học và xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay Diệt vong” dưới bút danh Ba Kim. Từ đó, không may người còn nhớ đến tên thật của ông nữa. Năm 1928, Ba Kim quay trở lại Thượng Hải để sáng tác và làm phiên dịch. Từ 1929 đến 1937, ông đã viết nhiều tác phẩm, trong đó đáng chú ý nhất có Gia đìnhŠ(1933), Giác mơ của biển?(1932), Ngày Thu giữa mùa Xudn!°(1932), Cuộc đời mới! (1933) , eae 9 HE =H 10 AREWKK 11 Äï# 12 Bộ ba Tình yêu Sương, Mưa, Điện!? (1936) ; các tập truyện ngắn Phuc thù!” (1931) , Tướng quân! (1934) , Thần-Quỷ-Người!Š (1935) ; các tập tản văn: Hải hành tập ký!5 (1932) , Nhớ lại” (1936) , Doan gián'Š (1937) v.
Trong số những tác phẩm đó thì Gia đình đã làm nên vị trí quan trọng của Ba Kim trong lịch sử văn học Trung Quốc thế kỷ XX. Trong tác phẩm ông đã tìm thấy sức mạnh vĩ đại của trào lưu cách mạng dâng lên làn sóng mạnh mẽ có khả năng làm thay đổi cuộc sống cũ trong tang lớp thanh niên. Với tình cảm sục sôi, kiên quyết, Ba Kim lên án và đả kích mạnh mẽ thế lực phong kiến và nhiệt thành gợi ca sự giác ngộ, tự nguyện đứng dậy, vươn lên và tiễn tới của một bộ phận tầng lớp thanh niên trí thức Trung Quốc. Chủ đề sáng tác của ông trong giai đoạn này chủ yếu thé hiện tư tưởng chống lại phong kiến và dé cao chủ nghĩa vô chính phủ!° đầy sức sống và chủ nghĩa lý tưởng, nhưng đã bị “phái tạo phản” coi là “tác phẩm phan động”, lay cớ dé dau tố và đả kích ông trong Cách mạng Văn hóa.
Sau khi cuộc chiến kháng Nhật bùng nỗ (1937), Ba Kim đã bôn ba khắp nơi tham gia kháng chiến và làm biên tập cho các báo chí như Gao thé7°, Cứu vong Nhật báo?!, hoàn thành nốt hai tiểu thuyết Mùa xuân, Mùa thu,” viết bộ ba tiểu thuyết Kháng chiến?” (còn gọi là Lửa, 1940-1945), một số tập truyện 12 fH = TBH. PSS HB 13 tu 14 GF 15 FH »* LH 16 {724i 17 12 18 ei fia 19 Anarchism, Z6 Cave FEHB E SL 20 Fy Hak 21 re Atk 22 #®#, 1 23 tì, XÍR kỳ 13 ngắn và tản văn. Trong thời gian này, Ba Kim còn đảm nhiệm chức vụ Tổng biên tập Nhà xuất bản Đời sống văn hoá, làm chủ biên một loạt sách như Van quý nguyệt san”', Văn học tùng san”. Thời kỳ cuỗi va sau khi kháng chiến thang lợi, ông đã viết một loạt tiểu thuyết dai và vừa như Phòng bệnh số 46 (1946), _ Đêm lạnh?7(1941) v.
Tác pham của ông trong giai đoạn này chủ yếu phản ánh những sự xấu xa u ám trong xã hội dưới sự thống trị của Quốc dân Đảng nhăm cô vũ ý chí chiến đấu chống Nhật của dân tộc Trung Hoa. Sau khi nước Trung Hoa mới được thành lập (1949), Ba Kim đã được giao các chức vụ quan trọng như Phó Chủ tịch Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Trung Quốc, Chủ tịch Hiệp hội nhà văn Trung Quốc, Chủ tịch Trung tâm Bút hội, Phó Chủ tịch Hội nghị Chính Hiệp nhân dân toàn quốc các khoá 6,7,8,9. Ong là đại biểu Đại hội Nhân Dân Trung Quốc (Quốc hội) các khóa 1,2,3,4,5 và là Phó Chủ tịch Quốc hội khoá 5. Ông đã nhiều lần tham gia các đoàn đại biểu đi thăm nước ngoài và các cuộc giao lưu văn học quốc tế.
Ba Kim hăng hái thâm nhập vào đời sống thực tế để sáng tác. Ông đến ham mỏ, công trường, nhà máy tìm hiểu cuộc sống của công nhân và phản ánh tâm tư, nguyện vọng của họ trong tác pham. Đầu những năm 50, ông hai lần đến Triều Tiên và Việt Nam, nhiều lần ra nước ngoài giao lưu văn hóa. Mười bảy năm trước khi xảy ra Cách mạng Văn hóa (1949 - 1966) là thời gian sáng tác sung sức nhất của Ba Kim.
Thể loại mà ông sáng tác chủ yếu là tản văn như tác phẩm Ngày Tết của Hoa Sa?3 (1951) , Câu chuyện anh hùng ”?(1953), Song 24 xZ2H1£ 25 MEET 26 AVY 27 3E 28 FEYbI ANAT 29 3/1 SE 14 giữa những người anh hàng ”'(1953), Mọi người bảo vệ tổ quốc”! (1954) , Những ngày day vui vẻ? (1957) , Tân thanh tập”? (1959) , Hữu nghị tập” (1959) , Tan ca tập”) (1960) , Tình cảm thổ lộ không hết5 (1963) , Bên bờ cau Hiển Lương” (1964) , Bắc tái hanh*®® (1965). Trong sô những tác phẩm này, Bên bờ cầu Hiển Lương là một tập tản văn mà Ba Kim viết sau chuyến đi thăm Việt Nam. Lời văn trong tác phâm tran đầy cam xúc, nói lên cảm tình đặc biệt của nhân dân Trung Quốc với cuộc đấu tranh thống nhất đất nước và xây dựng Chủ nghĩa Xã hội của nhân dân Việt Nam. Dé phù hợp với môi trường văn hóa gắn liền với chủ trương và đường lối về văn hóa nghệ thuật của Đảng Cộng sản Trung Quốc thời kỳ này, đề tài sáng tác của ông trong giai đoạn này tập trung ca ngợi đất nước mới và cuộc sống mới, phản ánh sinh động công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa trên đất nước Trung Hoa mới và thể hiện niềm phan khởi của mình.
Trong Cách mạng Văn hóa (1966-1976), ông bị đả kích và đấu tố, việc sáng tác văn học bị gián đoạn. Đại Cách mạng Văn hóa của giai cấp vô sản (thường gọi tắt là Cách mang Văn hóa?) là một phong trào chính trị xã hội tại Trung Quốc diễn ra trong 10 năm từ tháng 5 năm 1966 tới tháng 10 năm 1976, gây tác động rộng lớn và sâu sắc lên mọi mặt của đời sống chính trỊ, văn hóa, xã hội ở nội địa Trung Quôc. Cuộc cách mạng này đã làm thay đôi quan 30 ETRE SEE El 31 fRE AREA AM 32 AXCKINA 33 eR 7 HỆ1 0 34 a mà Kỹ 35HEARX SE 36 (ain AAR 37Wt [ME 38 ABET 39 SCL Kt 15 niệm xã hội, chính trị, đạo đức của Trung Quốc một cách sâu sắc và toàn diện. Phong trao này cũng gây ra những vụ bạo động, sự hỗn loạn và ton thất, nên nó cũng được gọi là “10 năm hỗn loạn” hoặc “10 năm thảm họa”.
Trong không khí ngột ngạt và dau tố ghê rợn của “cách mang văn hóa" Ba Kim bi day doa, tước đoạt hết mọi nhân quyền, trở thành “thú?” “bo*!” và bị quăng vào “chuồng bò””” tham gia lao động nặng nhọc để ““cải tạo”. Ông không chỉ bị tốn thương về thé chat và tinh thần mà còn mat cả vợ yêu Tiêu Sơn và nhiều bạn thân khác, dé lại cho ông rất nhiều đau khổ và suy nghĩ, Tất cả những điều này đều trở thành động lực lớn nhất giúp ông sáng tác nên 7y trong luc sau khi cuộc Cách mạng Văn hóa kết thúc. Sau khi đập tan "Bè lũ bốn tên"(1976), Ba Kim bước vào giai đoạn sáng tác mới. Các tác phẩm của ông được xuất bản trong thời ky mới có tản văn Mot bức thư đăng trên Văn hội Báo vào năm 1977 là tác phẩm đầu tiên Ba Kim được viết và xuất bản ké từ năm 1966.
Nhưng tản văn này cùng tản văn Giải phóng lan thứ hai đều mang dau an của thời kỳ mà Ba Kim cho rằng những da kích và đấu tố với mình trong Cách mạng Văn hóa có ý nghĩa cải tạo. Điều đáng chú ý là, Ba Kim còn tự trách trong lời cuối sách mới khi tái bản tác phâm Gia đình ,“tôi chống lại tư tưởng phong kiến nhưng không triệt để, chưa hoàn toàn phan ánh được sự bóc lột và áp bức của giai cấp địa chủ đối với người nông đâu. Nhưng I năm sau, Ba Kim lại hoàn toàn phủ nhận những quan điểm trên, “.ndm ngoái khi tái bản tác phẩm Gia, tôi cho răng bộ tiểu thuyết này đã kết thúc nhiệm vụ lịch sử của nó trong lời cuối sách viết mới, dù tôi không phải nói doi vì khi ấy tôi chưa thấu hiểu, hiện nay tôi biết tôi nhầm. ” Rõ ràng là tư tưởng Ba Kim có thay da đổi thị từ năm 1977 đến năm 1978 [36, tr.
Từ năm 1977 đến năm 1978 Ba Kim viết nhiều tản văn và truyện vừa, vừa vạch tran sự tàn ác và bạo lực của "Bè lũ bốn tên", vừa thé hiện niềm phan khởi đối với cuộc sống mới và bay tỏ long yêu nhân dân và Tổ quốc. Tháng 12 năm 1978, Ba Kim bắt tay vào sáng tác tác phẩm quan trọng nhất của mình sau Cách mang Văn hóa, đó chính là Tuy ưởng lục. Từ năm 1978 đến năm 1980, Ba Kim viết 11 bài hồi ức lục bàn về tác phẩm của mình trước khi nước Trung Hoa mới thành lập (1949).