MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Xã hội ngày càng phát triển, quá trình đô thị hóa ngày càng tăng, lượng chất thải nhựa thải ra môi trường ngày một nhiều. Các loại rác thải nhựa chủ yếu là túi ni-lông, vỏ chai nhựa, các sản phẩm nhựa sử dụng một lần (cốc nhựa, đĩa nhựa, chén nhựa, hộp xốp, ống hút, …), dây thừng/lưới… được thải ra từ các hoạt động sản xuất, tiêu dùng, trồng trọt, chăn nuôi, … Tình trạng ô nhiễm rác thải nhựa mỗi ngày một tăng ở các quốc gia trên thế giới. Việt Nam được đánh giá là quốc gia đứng thứ 4 trên thế giới về xả rác thải nhựa ra môi trường [40].
Mỗi năm Việt Nam thải ra môi trường 1,8 triệu tấn nhựa, trong đó có khoảng 730.000 tấn bị thải ra biển. Thống kê cho thấy, trung bình mỗi gia đình Việt Nam hàng ngày sử dụng khoảng 10 túi ni-lông các loại, bình quân mỗi hộ sử dụng khoảng 1kg túi ni-lông/tháng [11]. Số lượng bao bì nhựa và túi ni-lông sử dụng ngày càng gia tăng trở thành gánh nặng cho môi trường, đe dọa nghiêm trọng đến môi trường đất, nước, không khí, thậm chí dẫn tới thảm họa “ô nhiễm trắng”. Lượng rác thải nhựa của cả nước chiếm khoảng 10-12% chất thải rắn sinh hoạt, một lượng lớn trôi nổi trên sông, hồ, vùng đất ngập nước cửa sông, ven biển [11], chúng theo dòng chảy của sông, suối ra biển và đại dương và gây ra tình trạng ô nhiễm nhựa trên phạm vi toàn cầu.
Các rác thải nhựa khi đi vào môi trường nước sẽ không bị phân hủy ngay mà dưới tác dụng của các tác nhân như bức xạ cực tím hay quá trình mài mòn cơ học và các tác dụng sinh học sẽ bị chia nhỏ thành các mẫu nhựa nhỏ hơn có kích thước từ 1 µm đến 5000 µm gọi là vi nhựa [18]. Sự xâm nhập của vi nhựa vào môi trường biển gây ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành thủy sản thương mại và nuôi trồng thủy sản [51]. Các loại động vật thủy sinh có kích thước nhỏ như tôm 2 hay các động vật giáp xác mười chân khác có nhiều khả năng bị ảnh hưởng bởi vi nhựa hơn so với cá lớn, vì vi nhựa có cùng kích thước với con mồi hoặc thức ăn của tôm hay các động vật cỡ nhỏ này. Tôm là loài ăn tạp, sử dụng các chân bò để thu lấy thức ăn và sẽ tiêu thụ mọi thứ trên đường di chuyển của chúng [59].
Kết quả là tôm ăn nhầm những vi nhựa và tích tụ trong ruột của chúng. Các vi nhựa tích tụ sẽ ảnh hưởng đến sự an toàn của hải sản [30]. Có thể thấy rằng các loài động vật thủy sinh được xem là hải sản đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế của Việt Nam. Trong số những loài này, các loài tôm là thức ăn ưa thích của người dân ở các vùng khác nhau trong cả nước và đồng thời cũng là sản phẩm xuất khẩu quan trọng của quốc gia.
Do vậy, nghiên cứu sự tích tụ vi nhựa ở các loài tôm là rất cần thiết. Bình Định là tỉnh có đường bờ biển kéo dài, cùng với vùng ven bờ tương ứng là điều kiện thuận loại cho phát triển thủy sản. Trong tỉnh Bình Định, Hoài Nhơn là một trong những huyện/thị xã đang phát triển mạnh các hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, với sự chú trọng vào các loài tôm. Tuy nhiên, nằm trong thực trạng chung của quốc gia, các vùng ven bờ của Hoài Nhơn cũng có thể bị tích tụ nhiều vi nhựa, và nguồn vi nhựa này có thể đi vào cơ thể của các sinh vật thủy sinh thông qua lưới thức ăn.
Thực tế, một số loài cá được thu ở khu vực này đã nhiễm vi nhựa với lượng trung bình 11,03 ± 7,1 vi nhựa/cá thể [3]. Thế nhưng thực trạng/mức độ nhiễm vi nhựa ở tôm và các đối tượng khác vẫn chưa được nghiên cứu. Trước thực tế như vậy, tôi thực hiện đề tài “So sánh sự tích tụ vi nhựa ở một số loài tôm nuôi và tôm tự nhiên tại thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định”. Mục tiêu nghiên cứu So sánh mức độ tích tụ vi nhựa cũng như những đặc điểm của vi nhựa tích tụ ở một số loài tôm nuôi và tôm tự nhiên ở vùng ven bờ Thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định làm cơ sở khoa học để có thể đưa ra những khuyến cáo hoặc 3 giải pháp nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của vi nhựa tích tụ trong hải sản nói chung và tôm nói riêng đến sức khỏe người dân trong tương lai.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3. Ý nghĩa khoa học - Cung cấp những chứng cứ khoa học về thực trạng nhiễm vi nhựa ở một số loài tôm nuôi và tôm tự nhiên ở vùng ven biển Thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, làm cơ sở cho các nghiên cứu sâu hơn về vi nhựa, như tác động của vi nhựa tích tụ ở các loài thủy sản đến con người. - Kết quả của đề tài có thể được sử dụng trong công tác giảng dạy liên quan đến sinh thái, môi trường. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu giúp các nhà quản lý địa phương hiểu rõ hơn về thực trạng ô nhiễm vi nhựa ở vùng ven biển, từ đó có thể đưa ra các chính sách hợp lý nhằm giảm thiểu rác thải nhựa cũng như đưa ra những khuyến cáo để giảm thiểu nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về chất thải nhựa - vi nhựa 1. Nguồn gốc phát sinh rác thải nhựa Nhựa là thuật ngữ phổ biến chung cho các loại vật liệu rắn vô định hình tổng hợp hoặc bán tổng hợp thích hợp cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp. Nhựa thường là các polyme có trọng lượng phân tử cao và có thể chứa các chất khác để cải thiện hiệu năng hoặc giảm chi phí.
Nhựa được dùng làm nguyên liệu để sản xuất ra rất nhiều loại vật dụng để phục vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày như: hộp đựng thực phẩm, chai lọ, áo mưa, túi nilon, cốc, chén, đĩa, ống dẫn nước… kể cả những sản phẩm công nghiệp hiện đại ứng dụng trong sản xuất, xuất nhập khẩu. Từ những năm đầu của thập niên 70 ở thế kỉ XX, nhựa trở nên phổ biến và được sử dụng rộng rãi trong đời sống. Cho đến nay nhựa đã trở thành một vật liệu không thể thiếu hàng ngày. Từ truyền thông, giải trí, sức khỏe, đến bảo tồn năng lượng trong vận tải…nhựa đang đóng vai trò chính trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta và phúc lợi xã hội trong tương lai [8] Bên cạnh những lợi ích to lớn mà vật liệu nhựa đem lại, không thể không kể đến những tác hại do các rác thải nhựa gây ra.
Ô nhiễm nhựa là một mối đe dọa đến hành tinh, ảnh hưởng đến gần như mọi hệ sinh thái: biển, nước ngọt trên toàn cầu và đã ảnh hưởng không nhỏ đến các sinh vật kể cả con người sống trong môi trường bị ô nhiễm rác thải nhựa. Các vật liệu nhựa, chẳng hạn như: PS, PE và PP, có thể hấp thụ các hợp chất hữu cơ kỵ nước, cụ thể là PCB, PBDE, PAH và hexabromocyclododecane (HBCD), sau đó, mang chúng đến các sinh vật. Hơn nữa, các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng vi nhựa có thể là vật trung gian gây ô nhiễm kim loại nặng trong môi trường biển [68]. 5 Rác thải nhựa trong các Xử lý và thải ra Rác thải nhựa Phân bố trong Vi nhựa có hoạt động sinh hoạt , sản trong các hoạt trong môi ở khắp mọi môi trường xuất và trong nước động sinh hoạt trường ( gió, đất nơi nước) Phát tán theo gió Bùn thải trong đất Xử lý nước thải Lưu giữ Trôi theo ở trầm Tích lũy dòng Xử lý tích chảy nước thải Trôi theo Tích lũy và gây sông suy thoái đất Nguyên liệu đầu vào của nhựa Môi trường hàng hải, ngư biển cụ, vận chuyển Lắng đọng phế thải, hàng trong nước hóa, thất thoát Hình 1.1: Nguồn gốc phát sinh rác thải nhựa [66] Theo Jambeck và Law (2017), thế giới đã sản xuất ra 8,3 tỉ tấn nhựa, trong đó có 6,3 tỉ tấn là rác thải nhựa [58].
Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc, mỗi năm thế giới thải ra môi trường khoảng 300 triệu tấn rác thải nhựa, Việt Nam thải ra khoảng 1,8 triệu tấn [8]. Trong đó, rác thải nhựa được thải ra từ rất nhiều nguồn như: Rác thải nhựa từ các hoạt động sinh hoạt: Là rác thải nhựa xuất phát chủ yếu từ các khu dân cư, chợ, cửa hàng. Những rác thải nhựa từ sinh hoạt chủ yếu là túi nilon, chai nhựa, đồ chơi, tã bỉm, ống hút, cốc sữa chua, bàn chải đánh răng [8] … 6 Rác thải nhựa từ hoạt động công nghiệp: Là rác thải phát sinh từ hoạt động sản xuất, thi công của các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp [8] … Rác thải nhựa y tế: Đây là nguồn rác thải nhựa khá lớn hiện nay, do đặc thù của ngành y tế là cần sử dụng rất nhiều đồ dùng 1 lần để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm, bảo đảm an toàn trong khám chữa bệnh. Các loại rác thải nhựa y tế phải kể đến: túi nilon, bao gói đựng vật tư y tế, dụng cụ đóng gói thuốc, găng tay, kim tiêm [8] … Ngoài ra rác thải nhựa còn có nguồn gốc từ các khu du lịch, dịch vụ, khu vui chơi giải trí hay các trường học [8]… Tất cả các nguồn rác thải nhựa này từ đất liền trôi theo các dòng chảy: sông, suối… đổ ra biển kết hợp với rác thải nhựa do các hoạt động trên biển của con người thải ra gây ra ô nhiễm rác thải nhựa trong đại dương.
Nguồn gốc phát sinh vi nhựa Vi nhựa tìm thấy trong các môi trường khác nhau: trong nước, trong không khí, trong đất. Vi nhựa xâm nhập vào môi trường biển chủ yếu thông qua các hoạt động của con người: nuôi trồng , đánh bắt, du lịch, hệ thống nước thải công nghiệp và sinh hoạt và sự phân bố của chúng khá đa dạng. Sự ô nhiễm trên diện rộng của đất với vi nhựa có liên quan đến việc sử dụng rộng rãi đồ nhựa bỏ đi [37]. Một số nghiên cứu gần đây đã liệt kê các nguồn vi nhựa có thể có trong đất [64], [63], [44], [39].
Lớp phủ màng nhựa, bãi chôn lấp bùn thải, phân trộn, tưới tiêu và lũ lụt của nước thải, lốp xe ô tô vẫn còn, và lắng đọng trong khí quyển được coi là những yếu tố đóng góp đáng kể cho vi nhựa trong môi trường đất [37]. Vi nhựa là những mẫu nhựa có kích thước nhỏ hơn 5mm [15].