Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận. Phân tích tổng quan về tình hình nghiên cứu: nghĩa bị động, phương tiện biểu hiện nghĩa bị động, cấu trúc bị động, câu bị động v. Chương 2: So sánh từ Được trong tiếng Việt với các tương đương: từ 被 (bị), từ 得 (đắc) trong tiếng Hán. Thảo luận và so sánh được của tiếng Việt (biểu thị ý nghĩa bị động với tình thái đánh giá “may mắn/ phù hợp với mong muốn, yêu cầu”) với phương tiện biểu thị tương đương trong tiếng Hán.
Chương 3: So Sánh từ bị/phải trong tiếng Việt với từ 被 (bị) trong tiếng Hán. Thảo luận và so sánh bị, phải của tiếng Việt (biểu thị ý nghĩa bị động với tình thái đánh giá “không may mắn/ không phù hợp với mong muốn, yêu cầu”) với phương tiện biểu thị tương đương trong tiếng Hán. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN Trong tiếng Việt có ba từ: được, bị, phải thể hiện ý nghĩa bị động (Passive meaning). Tiếng Hán (Trung) có từ 被 (bị) và từ 让 (nhượng), từ 叫 (khiếu), từ 给 (cấp) để biểu hiện nghĩa này.
Như vậy, cũng như trong các ngôn ngữ khác, tiếng Việt và tiếng Hán có ý nghĩa bị động và phương tiện ngôn ngữ để thể hiện ý nghĩa bị động. Tuy nhiên, cách thức và phương tiện thể hiện ý nghĩa bị động trong mỗi loại hình ngôn ngữ có những khác biệt. Các ngôn ngữ biến hình, thể hiện ý nghĩa bị động bằng các dạng bị động của động từ (tức là từ biến đổi hình thái để thể hiện nghĩa bị động. Ví dụ: tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp v.) Các ngôn ngữ đơn lập như tiếng Hán, tiếng Việt thể hiện ý nghĩa bị động bằng phương tiện từ vựng chứ không thể hiện bằng dạng bị động của động từ (tức là bằng sự biến đổi hình thái của từ).
Ví dụ: (1) Con chuột bị anh ta đánh chết rồi. 老鼠被他打死了。(Lão thử bị tha đả tử liễu.) Các nhà nghiên cứu Hán ngữ học và Việt ngữ học đã nghiên cứu các vấn đề về ý nghĩa bị động, cách thể hiện ý nghĩa bị động trong tiếng Hán, tiếng Việt, ít nhiều so sánh với các vấn đề hữu quan trong ngôn ngữ Ấn Âu; nhưng so sánh Hán – Việt, hoặc Việt – Hán thì còn rất ít. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiếng Việt và tiếng Hán có quan hệ tiếp xúc rất lâu đời và rất sâu sắc. Từ bị và được là hai từ Hán Việt.
Cả được, bị, phải trong tiếng Việt lẫn 被 (bị) trong tiếng Hán đều liên quan đến ý nghĩa bị động và phạm trù bị động trong ngữ pháp, cho nên việc nghiên cứu nhóm từ này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng đối với việc dạy và học tiếng Hán và tiếng Việt. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ý nghĩa bị động của được/bị/phải trong tiếng Việt Trong nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, có hai vấn đề quan trọng liên quan đến nhau là ý nghĩa bị động – cấu trúc bị động và ý nghĩa của nhóm từ mang ý nghĩa tình thái – bị động (bị, được, phải). Ý nghĩa bị động, cách thể hiện ý nghĩa bị động và cấu trúc bị động đã được chú ý từ lâu, và các nhà nghiên cứu đã có những quan điểm không giống nhau, có quan điểm cho rằng, tiếng Việt không có cấu trúc bị động, có quan điểm lại cho rằng tiếng Việt có cấu trúc bị động.
Việc phân tích miêu tả ý nghĩa bị động trong tiếng Việt thường không thực hiện riêng biệt mà thường gắn với nhóm từ mang ý nghĩa bị động điển hình được/ bị/ phải và cũng thường chỉ phân tích trong các miêu tả về ngữ pháp khi bàn luận về ý nghĩa bị động, cấu trúc ngữ pháp bị động, câu bị động. Diệp Quang Ban và Nguyễn Thị Thuận công bố bài Lại bàn về vấn đề câu bị động trong tiếng Việt (Tạp chí Ngôn ngữ, số 7 – 2000) đã xử lý một cách khá đầy đủ về mặt câu bị động. Năm 2004, Nguyễn Hồng Cổn và Bùi 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thị Diên công bố bài Dạng bị động và vấn đề câu bị động trong tiếng Việt (Tạp chí Ngôn ngữ, số 7 và 8 - 2004) miêu tả một cách rõ ràng về dạng bị động và cấu trúc ngữ pháp bị động trong tiếng Việt. Trừ các sách ngữ pháp thảo luận về nội dung của vấn đề này, những nghiên cứu kỹ về ý nghĩa bị động của nhóm ba từ được/ bị/ phải đáng kể nhất phải kể đến các bài của Nguyễn Tài Cẩn, Vũ Thế Thạch, Vũ Đức Nghiệu.
Trước hết, Nguyễn Tài Cẩn năm 1978 công bố bài Quá trình hình thành thế đối lập giữa ba từ được, bị, phải (Ngôn ngữ số 2 - 1978, tr. Vũ Thế Thạch công bố bài Ý nghĩa và chức năng của các từ được, bị, phải trong tiếng Việt hiện đại trên (Ngôn ngữ số 1 - 1988, tr. Năm 1998, 2002, Vũ Đức Nghiệu trong những nghiên cứu đối chiếu Khmer - Việt đã cố gắng miêu tả, phân tích và đối chiếu ngữ nghĩa, ngữ pháp của các từ được, bị, phải với từ ban, trâw. (So sánh ý nghĩa thụ động, tình thái của hai từ "phải" và "t'râw" trong tiếng Việt và tiếng Khmer hiện nay.
Tạp chí Khoa học Xã hội, Đại học Quốc gia Hà Nội, S. So sánh ngữ nghĩa, ngữ pháp của “được”, “bị”, “phải” trong tiếng Việt với “ban”, “t’râw” trong tiếng Khmer.) Các công trình trên đây tập trung nghiên cứu vấn đề nguồn gốc của nhóm từ, quá trình hình thành thế đối lập trong nội bộ của nhóm và đặc biệt là phân tích, miêu tả khá chi tiết tổ chức ngữ nghĩa, chức năng ngữ pháp, giá trị và chức năng ngữ dụng của các từ trong nhóm này. Đó là những nghiên cứu 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tốt mà khi đề cập đến những nội dung có liên quan không thể không nhắc đến. Đối với việc nghiên cứu cách thể hiện ý nghĩa bị động, cấu trúc bị động và câu bị động trong tiếng Việt, không phải là không có những phức tạp.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập, phân tích tính, cho nên không tồn tại câu bị động như các ngôn ngữ biến hình; và tiếng Việt là một ngôn ngữ thiên chủ đề chứ không phải là thiên chủ ngữ. Họ cho rằng trong các ngôn ngữ thiên chủ đề thì không thể xuất hiện bị động bởi bị động là đặc trưng của các ngôn ngữ thiên chủ ngữ. (Nguyễn Hồng Cổn, Bùi Thị Diên, 2004) Mặt khác, những nhà nghiên cứu ủng hộ quan điểm này cũng cho rằng các động từ bị và được là những động từ ngoại động, nên không thể coi chúng là dấu hiệu ngữ pháp biểu hiện quan hệ bị động. Nguyễn Kim Thản (1977) cho rằng các động từ bị, được là những động từ độc lập đóng vai trò chính trong bộ phận vị ngữ của câu chứ không phải là hư từ biểu thị dạng bị động của động từ.
Quan điểm này được Nguyễn Minh Thuyết (1998) đồng tình ủng hộ. Tuy nhiên, dù không thừa nhận tiếng Việt có dạng bị động nhưng tác giả này đều cho rằng trong tiếng Việt có cách biểu đạt ý nghĩa bị động riêng, đó là cách biểu hiện bằng cấu trúc cú pháp và phương tiện từ vựng. (Nguyễn Hồng Cổn, Bùi Thị Diên, 2004) Ngược lại, một số nhà nghiên cứu khác cho rằng, trong tiếng Việt có cấu trúc bị động và câu bị động. Nguyễn Phú Phong (1976) thừa nhận “bị động” là một 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phạm trù ngữ pháp tách biệt trong tiếng Việt.
Ông cũng cho rằng được, và bị là hai trợ từ bị động. Hoàng Trọng Phiến (1980) quan niệm: “Trong tiếng Việt phương thức đối lập bị động và chủ động không phải bằng con đường ngữ pháp thuần túy mà bằng con đường từ vựng – ngữ pháp”. Diệp Quang Ban và Nguyễn Thị Thuận (2000) cũng bênh vực cho sự tồn tại của câu bị động trong tiếng Việt. Theo hai tác giả, dạng (thái) bị động trong tiếng Việt không phải là dạng của động từ mà là dạng của một kiến trúc riêng với những đặc trưng ngữ pháp và ngữ nghĩa xác định.
(Nguyễn Hồng Cổn, Bùi Thị Diên, 2004) Như vậy, thực tế là có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề bị động, cấu trúc bị động trong tiếng Việt. Ngay trong số những tác giả thừa nhận tiếng Việt có cấu trúc bị động thì tiêu chí nhận diện mà họ đưa ra cũng khác nhau. Chúng tôi cho rằng, cũng như các ngôn ngữ khác, ý nghĩa bị động gắn với câu bị động trong Tiếng Việt được coi là quan hệ cải biến với các câu chủ động tương ứng, mặc dù không phải câu chủ động nào cũng chuyển được thành câu bị động. Dĩ nhiên các phép cải biến cú pháp đó phải thỏa mãn các điều kiện về nghĩa học và dụng học của câu bị động.
Từ cách nhìn đó, chúng tôi cho rằng mặc dù trong tiếng Việt không tồn tại dạng bị động với tư cách là một phạm trù hình thái học thuần túy nhưng ý nghĩa bị động với tư cách là một loại ý nghĩa ngữ pháp vẫn được biểu hiện bằng các phương tiện ngữ pháp nhất định là hư từ và trật tự từ. Vì vậy tiếng Việt vẫn có cấu trúc bị động và câu bị động. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tình hình nghiên cứu ý nghĩa bị động trong tiếng Hán Tiếng Hán là thuộc hệ ngôn ngữ Hán – Tạng, cũng là ngôn ngữ đơn lập, không có biến đổi hình thái.
Tiếng Hán cũng có cách diễn đạt ý nghĩa bị động bằng phương thức ngữ pháp hư từ và trật tự từ. Tiếng Hán có “hình thức bị động”, nhưng động từ tiếng Hán không có dạng bị động. Cách diễn đạt ý nghĩa bị động trong tiếng Hán hiện đại đã được các học giả nghiên cứu từ lâu. Các công trình nghiên cứu về vấn đề bị động phần lớn là về mặt câu bị động.
Là vì từ xưa đến nay, cách biểu đạt ý nghĩa bị động trong tiếng Hán đã trải qua nhiều thay đổi. Cách dùng từ “被 (bị)” với ý nghĩa bị động xuất hiện cách nay chưa lâu, sau khi cấu trúc này xuất hiện, các cấu trúc khác biểu thị ý nghĩa bị động dần dần mất hẳn. Cách diễn đạt ý nghĩa bị động trong tiếng Hán có thể chia thành hai loại: một là có tiêu chí hình thức diễn đạt đặc thù, một loại khác là không có tiêu chí hình thức diễn đạt đặc thù.