CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYÉT 1. Cơ sở lý thuyết về từ Hán Việt 1. Cách đọc Hán Việt Về hệ thống ngữ âm của từ Hán Việt, chúng ta phải nhắc đến nhiều Tác giả nổi tiếng Việt Nam và ngoài nước. Tác giả được nhắc đến trước tiên là Vương Lực người Trung Quốc, tác giả được xem là người đi đầu nghiên cứu một cách cụ thể về từ Hán Việt.
Khi đa số những Tác giả đi trước đều cho rằng quá trình hình thành âm Hán Việt chỉ là kết quả dưới sự tác động của một loại từ vựng mượn từ tiếng Hán nhưng Vương Lực lại nhận định: hiện tượng Việt hóa của từ Hán Việt không phải chỉ đơn giản như là sự vay mượn giữa hai thứ tiếng, mà còn là một hiện tượng ngôn ngữ phức tạp và có giá trị về thực tế. Sự tiễn bộ trong nhận thức đã thể hiện trên phương thức nghiên cứu của ông. Trong cuốn sách “KABA (Nghiên cứu về Hán - Việt ngữ), nêu ra khái niệm “Hán - Việt ngữ” và chia giai đoạn hình thành từ Hán Việt thành ba giai đoạn: từ Hán Việt cổ, từ Hán Việt, Việt hóa, từ Hán Việt , đưa ra ý kiến cách đọc Hán - Việt bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Đường. Với phương pháp nghiên cứu Âm vị học, Vương Lực đã tiến hành việc nghiên cứu đưa trên sự so sánh giữa hệ thống ngữ âm của hai thứ tiếng Hán và tiếng Việt.
Dưới góc nhìn đó, ông cũng tham khảo ý kiến của Henri Maspero trong quyên sách “Etudes sur la phonetique historique de la langue annamite”, tiến hành nghiên cứu 13 sâu về thanh mẫu của từ Hán Việt trong tiếng Việt, phân tích cả về vận bộ và thanh điệu của từ Hán Việt. Đến nay có thé thay rang, ông dat được nhiều thành quả nghiên cứu về hệ thống ngữ âm của từ Hán Việt, được giới Việt ngữ học khang dich va dat nén móng cho những việc nghiên cứu sau này. Tác giả Nguyễn Tài Can cũng là một người nổi tiếng trong lĩnh vực nghiên cứu về từ Hán Việt với tập chuyên luận “Nguồn gốc và quá trình hình thành cach doc Hán Việt”. Trong chuyên luận này, đã di sâu nguyên cứu ngữ âm lịch sử của tiếng Việt, khảo sát quá trình hình thành cách đọc Hán Việt với quá trình diễn biến của mấy hệ thống chủ yếu như sau: hệ thống phụ âm đầu Hán Việt, hệ thống vần Hán Việt sau đó rút ra nhiều kết luận mang tính đột phá.
Xét về nguồn gốc của cách đọc Hán Việt, ông cho rằng: Cách đọc Hán Việt là một cách đọc vốn bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Đường, ma cụ thé là Đường âm dạy ở Giao Châu vào giai đoạn bao gồm khoảng hai thế kỷ VIII, IX. Cách đọc theo Đường âm đó, sau khi Việt Nam giành được độc lập đã dần dần biến dạng đi, dưới tác động của quy luật ngữ âm và ngữ âm lịch sử tiếng Viét, tách xa han cách đọc của người Hán dé trở thành một cách đọc riêng biệt của người Việt và những người thuộc khu vực văn hóa Việt. Đây là một cách đọc tạo thành hệ thông, nghĩa là trên lý thuyết có thé dùng dé đọc toàn hộ kho tàng các ký hiệu văn tự Hán, với khả năng gân như cách đọc của bản thân người Hán. 14 Nhưng đây lại là một cách đọc độc lập, có đặc trung riêng, chức năng riêng và có cả một lịch sử diễn biến của riêng mình” [2; tr.
Điều này cho thấy, quan điểm của Nguyễn Tài Can giống với quan điểm của Vương Lực, họ đều đưa ra nhận định về nguồn sốc của cách đọc Hán Việt, cho rằng cách đọc Hán Việt hình thành trên cơ sở hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Đường. Ngược lại với hai tác giả lấy từng thanh mẫu và vận bộ làm đối tương nghiên cứu dé khám phá quá trình hình thành và diễn biến của nó. Cuốn sách này đã đem lại ảnh hưởng sâu sắc đối với việc nghiên cứu về cách đọc Hán Việt và trở thành một chuyên khảo có uy tín về mặt việc nghiên cứu từ Hán Việt. Từ quan niệm trên, người viết hiểu cách đọc Hán Việt là cách đọc chữ Hán của người Việt bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán thời Đường và là cách xử lí về ngữ âm mà người Việt dùng để đọc mọi chữ Hán.
Định nghĩa từ Hán Việt Cho đến nay, đã có nhiều Tác giả đưa ra quan niệm về khái niệm từ Hán Việt, người viết xin dẫn quan niệm về từ Hán Việt của một số tác giả như sau. Trong cuốn “Tir vựng học tiếng Việt”, theo hướng của tác giả Nguyễn Thiện Giáp cho răng từ gốc Hán trong tiếng Việt gồm hai bộ phận chính: các từ ngữ sốc Hán đọc theo âm Hán Việt (các từ Hán Việt) và các từ ngữ gốc Hán không đọc theo âm Hán Việt [3; tr. Các từ ngữ gốc Hán 15 không đọc theo âm Hán Việt, bao gồm ba loại: từ Hán cô (các từ Hán Việt vào Việt Nam trước đời Đường), các từ Hán Việt được Việt hóa và các từ gốc Hán tiếp nhận bằng con đường khẩu ngữ, qua cách phát âm địa phương. Có thé thấy, từ Hán Việt chính là các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt gồm có: - Các từ ngữ Hán được chấp nhận từ đời Đường đến nay chiếm đa số: gồm một loại là các từ tiếng Việt trực tiếp tiếp nhận từ tiếng Hán và một loại khác là các từ tiếng Việt tiếp nhận của các ngôn ngữ khác nhưng thông qua tiếng Hán.
- Các từ ngữ Hán Việt được cấu tạo ở Việt Nam: đây là các từ ngữ do người Việt sử dụng các yếu tố gốc Hán dé tạo ra các từ mới không có trong tiếng Hán, bao gồm hai loại: Những don vi được tạo ra do kết hợp với các yếu tô gốc Hán; Những don vị được tạo ra do một yếu tô gốc Hán kết hop với một yếu tố thuần Việt. Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến trong cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” chi ra rang từ Hán Việt là những từ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt trong giai đoạn hai (từ đời Đường trở về sau) , được người Việt đọc theo âm chuẩn (Trường An) của chúng theo hệ thống ngữ âm của mình. Cách đọc này đã được duy trì (với những biến đổi ít nhiều) cho đến tận ngày nay. Theo Nguyễn Như Ý, từ Hán Việt hay từ Việt gốc Hán được định 16 nghĩa là “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp của tiếng Việt” [5; tr.
Trong khi đó, các tác giả Hoàng Văn Hành và Hồ Lê ong “Bàn cách dùng từ ngữ thuần Việt thay thế cho từ ngữ Hán Việt”, vẫn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt lại cho rằng theo cách hiéu thông thường từ ngữ Hán Việt là những từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt. Bên cạch đó, hầu như tất cả các từ Hán Việt một âm tiết trong thực tế đều đã được Việt hóa hoàn toàn và được coi như thuần Việt. Tác giả Huỳnh Thanh Xuân trong cuốn “Tir Hán Việt trong tiếng Việt hiện đại” cho rằng từ Hán Việt là những từ gốc Hán được thu nhập vào trong tiếng Việt. Cách đọc từ Hán Việt, hay còn goi là âm Hán Việt là đọc theo âm Việt những từ gốc Hán.
Ví du: sơn, thủy, quốc, gia. Hơn nữa, trong vốn từ vựng của tiếng Việt, từ Hán Việt chiếm một số lượng rất lớn (trên 70%) [7]. Trong cuốn “7# ngoại lai trong tiếng Việt”, tác giả Nguyễn Văn Khang cho rằng tất cả những từ Hán có cách đọc Hán Việt đã có ít nhất một lần sử dụng trong tiếng Việt như một đơn vị từ vựng trong văn cảnh giao tiếp thì điều được coi là từ Hán Việ. Hơn nữa, chấp nhận là từ Hán Việt ở những biến thể khác nhau khi chúng đảm bảo được những điều kiện như: biến thé đó tuy có thé “đọc chệch phiên thiết” nhưng còn tồn tại trong một 17 kết hợp Hán Việt hoặc bản thân nó đã có sự phân bố sử dụng (ngữ nghĩa) với các biến thê khác cùng gốc.
Ví dụ như chấp nhận là từ Hán Việt trong các trường hợp: dé (trong dé kháng) và đề (trong dé kháng), chính (trong chính phụ) với chánh (trong chánh văn phòng, chánh án) [8; tr. Theo Nguyễn Văn Khang trong “Tir Hán Việt và vấn dé dạy hoc từ Hán Việt trong nhà trường pho thông” [9]. Từ Hán Việt “trước hết là những từ Hán được đồng hóa về ngữ âm, chúng là những từ Hán có cách đọc Hán Việt được nhập vào tiếng Việt và trở thành yếu tố của hệ thống từ vựng tiếng Việt”. Tổng hợp những ý kiến của các Tác giả nói trên, tác giả xin đưa ra khái niệm về từ Hán Việt như sau: Từ Hán Việt là từ tiếng Việt có nguồn sốc từ tiếng Hán, du nhập váo tiếng Việt trong giai đoạn hai (từ đời Đường trở về sau), chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp của tiếng Việt.
Đây là các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt và là tập hợp của tất cả những từ Hán Việt có cách đọc Hán Việt, đã có ít nhất một lần sử dụng trong tiếng Việt. Ngoài ra, tác giả cũng chấp nhận những từ Hán Việt ở những biến thể khác nhau khi những biến thể đó đã có sự phân bố sử dụng ngữ nghĩa với các biến thể khác cùng gốc. Như vậy có thé sơ bộ quan sát thấy đã có hiện tượng từ Hán Việt hợp thành một trường từ vựng phát sinh phát triển ngay trong lòng tiếng Việt và là một sản phẩm đặc biệt hình thành do sự giao thoa tiếp biến lâu đời giữa hai hệ thống ngôn 18 ngữ là tiếng Hán và tiếng Việt. Phân loại từ Hán Việt Hệ thống cách đọc âm Hán Việt được hình thành vào thời Đường, từ vựng tiếng Hán được du nhập vào tiếng Việt có quy mô lớn.
Ông Vương Lực, nhà ngôn ngữ học Trung Quốc đã đưa ra cách phân loại trong cuốn “ X#f!Z4Zf{Nghiên cứu về Hán - Việt ngữ). cách phân loại của ông đã đặt nền tảng quan trọng cho những người đi sau. Ông đã chia từ Hán Việt thành ba loại: “từ Hán Việt cổ”, “từ Hán Việt”, “từ Hán Việt Việt Hóa”. Với sự phân loại này của ông, những nhà nghiên cứu đi sau đã tham khảo quan điểm của ông, dành nhiều nỗ lực dé hoàn thiện và cụ thể hóa cách phân loại đối với từ Hán Việt [15].