Chương 1. Giới thiệu Trình bày lý do chọn đề tài, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu luận văn. 123doc 5 Chương 2. Cơ sở lý thuyết Chương này sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế của lúa và khoai lang và các nghiên cứu liên quan, gồm các nội dung: cơ sở lý thuyết, những khái niệm liên quan, các lý thuyết kinh tế liên quan và những mô hình kinh tế liên quan.
Phương pháp nghiên cứu Trình bày mô hình nghiên cứu, xây dựng thang đo, phương pháp chọn mẫu và phương pháp phân tích dữ liệu từ đó sẽ được sử dụng cho đề tài. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trên cơ sở kết quả nghiên cứu ở Chương 3, tác giả sẽ thực hiện các thao tác thống kê mô tả nhằm thể hiện những đặc trưng của bộ dữ liệu, trước khi đến với kết quả. Qua thảo luận: tác giả sẽ tóm lược các kết quả nghiên cứu trước nhằm đối chiếu với nghiên cứu, từ đó so sánh tính hiệu quả kinh tế của nhóm giải pháp hướng tới. Kết luận và hàm ý chính sách Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, ở chương này tác giả sẽ tóm lược lại toàn bộ nghiên cứu từ lý do chọn đề tài cho đến phương pháp và thảo luận kết quả của nghiên cứu.
Từ đó kiến nghị những giải pháp về chính sách có liên quan trong đề tài. Nêu những hạn chế của đề tài, qua đó đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo. 123doc 6 Chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Ở Chương này sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế của lúa và khoai lang và các nghiên cứu liên quan, nội dung gồm: những mô hình kinh tế, cơ sở lý thuyết và khái niệm liên quan.
MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 2. Khái niệm nông hộ Theo Haviland (2003) thì hộ gia đình được hiểu như là một đơn vị của xã hội bao gồm một hay một nhóm người cùng chia sẻ bữa ăn và không gian sống. Hộ gia đình bao gồm khái niệm gia đình nhưng những thành viên trong hộ có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng hoặc cả hai. Hiện nay trên thế giới có rất nhiều khái niệm về hộ nông dân.
Theo Ellis (1993) định nghĩa “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”. Ở Việt Nam, cũng có nhiều nghiên cứu đề cập đến khái niệm về hộ nông dân. Lê Đình Thắng (1993) cho rằng “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”. Theo Đào Thế Tuấn (1997) thì “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”.
Mặc dù đã có nhiều quan niệm về nông hộ nhưng xét về tổng thể nông hộ là hình thức tổ chức đã tồn tại từ rất lâu đời, là cơ sở của nông nghiệp ở nông thôn. Thành phần trong nông hộ gồm có cha mẹ và con cái, ngoài ra còn có ông bà và con cháu. Hộ nông dân có nguồn thu nhập chủ yếu từ trồng trọt, làm nghề rừng, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản. Như vậy, có thể khái quát, hộ nông dân hay nông hộ là đơn vị cơ sở cho phân tíchkinh tế trong nông nghiệp; Các nguồn lực (đất đai, vốn, sức lao động…) được 123doc 7 góp thành vốn chung, cùng chung ngân sách; sống cùng một mái nhà, ăn chung, được hưởng thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến của các thành viên trong hộ gia đình.
Khái niệm về kinh tế hộ nông dân Ellis (1993) quan niệm kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộ gia đình có quyền sinh sống trên đất đai, chủ yếu sử dụng sức lao động của gia đình. Sản xuất của họ nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn, tham gia ở mức độ không hoàn hảo vào thị trường. Kinh tế hộ nông dân có những đặc điểm chính như sau: Kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế có quy mô gia đình, mỗi thành viên trong hộ gắn bó với nhau về huyết thống và kinh tế. Các giai đoạn phát triển của kinh tế hộ nông dân gồm: kinh tế hộ sinh tồn, kinh tế hộ tự cung tự cấp và kinh tế hộ sản xuất hàng hóa.
Đất đai được xem là tư liệu sản xuất quan trọng nhất của hộ nông dân. Cuộc sống của họ gắn liền với ruộng đất do đó giải quyết mối quan hệ giữa nông dân và đất đai chính là giải quyết vấn đề cơ bản về kinh tế nông hộ. Nguồn lao động của hộ nông dân chủ yếu là người trong gia đình, việc thuê mướn những người lao động khác bên ngoài chỉ mang tính chất thời vụ hoặc thuê mướn để đáp ứng những công việc không thường xuyên của gia đình. Sản xuất của hộ nông dân là tập hợp các mục đích kinh tế của các thành viên trong gia đình, nằm trong một hệ thống sản xuất của cộng đồng.
Kinh tế hộ nông dân là tế bào của kinh tế nông nghiệp, có quan hệ với thị trường, tuy nhiên mức độ quan hệ với thị trường thấp, thiếu chặt chẽ kể cả trường hợp bị tách ra khỏi thị trường thì họ vẫn tồn tại. Từ khái niệm trên, tổng quát có thể thấy kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế có quy mô gia đình, có các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình, sử dụng sức lao động của gia đình là chính, các thành viên có quan hệ gắn bó với nhau về huyết thống lẫn kinh tế. Khái niệm hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa đầu vào được sử dụng với đầu ra. 123doc 8 Đầu vào có thể là số lượng lao động, tiền vốn, thời gian lao động, chi phí thường xuyên.
Đầu ra thường là giá trị tăng thêm (Lê Dân, 2007). Theo Hoàng Hùng (2007) thì hiệu quả kinh tế là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh. Theo Samullson và Nordhaus (2001), hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một cách hàng loạt của một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hóa khác. Theo Phạm Ngọc Kiểm (2009) thì hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ khai thác và tiết kiệm chi phí các nguồn lực nhằm thực hiện các mục tiêu trong quá trình sản xuất.
Hiệu quả kỹ thuật (TE): Là khả năng tạo nên khối lượng đầu ra cho trước từ một khối lượng đầu vào nhỏ nhất hay khả năng tạo nên một khối lượng đầu ra lớn nhất từ một lượng đầu vào cho trước, tương ứng với trình độ công nghệ nhất định. Hiệu quả kỹ thuật được đo bằng số lượng sản phẩm có thể sản xuất trên số nguồn lực sử dụng. Hiệu quả kỹ thuật phản ảnh mối quan hệ giữa yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra, giữa yếu tố đầu vào và yếu tố đầu vào. Hiệu quả kỹ thuật phụ thuộc chủ yếu vào công nghệ được áp dụng cũng như trình độ chuyên môn tay nghề của người sản xuất.
Hiệu quả phân bổ (AE): Là khả năng lựa chọn được một khối lượng đầu vào tối ưu mà ở đó giá trị sản phẩm biên của đơn vị đầu vào cuối cùng bằng với chi phí của đầu vào đó. Hiệu quả phân bổ là thước đo mức độ thành công trong việc lựa chọn các tổ hợp đầu vào tối ưu. Khi nắm được giá của các yếu tố đầu vào và đầu ra, người sản xuất sẽ quyết định mức sử dụng các yếu tố đầu vào theo một tỷ lệ nhất định để đạt được lợi nhuận tối đa. Để hiểu rõ bản chất của hiệu quả kinh tế, cần phân biệt giữa khái niệm kết quả và hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả kinh tế thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Còn kết quả là những gì đạt được sau một quá trình sản xuất. Kết quả đạt được cũng là mục tiêu của quá trình sản xuất. 123doc 9 Trong sản xuất nông nghiệp, kết quả sản xuất có thể là khối lượng nông sản thu được, giá trị sản xuất, lợi nhuận.
Nhưng những kết quả này không nói lên được nó được tạo ra như thế nào? Cách thức thực hiện ra sao? Các yếu tố nguồn lực được sử dụng nhiều hay ít? Do đó, không phản ánh được việc đầu tư sản xuất có hiệu quả hay không? Các nguồn lực được sử dụng như thế nào? Trình độ tổ chức sản xuất của các chủ thể trong nông nghiệp ra sao? Để phản ánh được các câu hỏi này, kết quả sản xuất phải được so sánh với chí phí đầu tư hoặc các nguồn lực được sử dụng (Phạm Thị Thanh Xuân, 2015). Như vậy, trong phạm vi luận văn này, hiệu quả kinh tế được hiểu là thước đo trình độ quản lý, tổ chức sản xuất nhằm đạt được kết quả đầu ra cao nhất với chi phí đầu vào thấp nhất. Lý thuyết về hành vi đầu tư sản xuất của nông hộ Reardon và cộng sự (1996) đã đề xuất các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi đầu tư vào sản xuất của nông hộ mà theo đó thì hành vi đầu tư vào sản xuất phụ thuộc trực tiếp vào hai nhóm nhân tố chính đó là: (1) Nhóm các động lực đầu tư và (2) Nhóm năng lực đầu tư. Nhóm các động lực đầu tư Các nhân tố liên quan tới môi trường bao gồm: khí hậu, môi trường đặc thù ở địa phương có ảnh hưởng tới mức sinh lời và rủi ro đầu tư.
Lợi suất đầu tư: Lợi suất càng lớn thì động lực đầu tư càng cao, nếu lợi suất đầu tư cao hơn so với các ngành khác thì sẽ tạo động lực cho đầu tư nhiều hơn. Độ rủi ro: bao gồm những biến động về giá cả hàng hóa, năng suất, những thay đổi trong chính sách,. và nếu rủi ro càng cao thì động lực đầu tư càng giảm. Tỷ lệ chiết khấu (hay là mức độ sẵn sàng hy sinh lợi ích hiện tại để cho tương lai).
Tỷ lệ chiết khấu sẽ cao hơn ở những hộ giàu có nên họ sẽ có động lực đầu tư cao hơn.