CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU 1. Lược sử nghiên cứu về đa dạng cá và sinh học cá biển Việt Nam Để có thể tận dụng nguồn lợi về tài nguyên biển, đặc biệt là nguồn lợi về thủy – hải sản, từ thời xa xưa ông cha ta đã có những nghiên cứu nhằm tìm ra được quy luật sinh trưởng, phát triển và các quá trình sinh học của chúng, để có thể nuôi trồng và khai thác một cách hợp lí nhất, đem lại lợi ích cao về kinh tế. Và lược sử nghiên cứu về khu hệ cá ở Việt Nam có thể chia làm 4 giai đoạn sau: Giai đoạn trước năm 1884 Vào thời kì này chủ yếu là những nghiên cứu lẻ tẻ về đời sống các loài cá, nghề chế biến cũng như nghề khai thác cá, nghề nuôi cá,… Những nghiên cứu này được ghi chép trong cuốn “Sử học và kinh tế phong kiến”.
Điển hình là cuốn “Nghiên cứu về khu hệ cá ở châu Á và mô tả một số loài mới ở Đông Dương” của Sauvage (1881) đã đưa ra danh mục với 138 loài cá nước ngọt [28]. Giai đoạn từ năm 1884 - 1945 Phần lớn là các nhà khoa học người Pháp nghiên cứu về hình thái phân loại, khu hệ, phân bố địa lý, giải phẫu, sinh thái sinh lý và hóa sinh nhằm mục đích khai thác thuộc địa, phục vụ lợi ích trước mắt của thực dân Pháp. Một số công trình đã được công bố: Đông Dương nguồn lợi biển và nước ngọt của Gruvel A. (1925); Các loài cá Bắc Bộ của Chevey P.
(1937) đã công bố danh sách 98 loài cá; Sauvage (1981) đã lập ra danh mục 139 loài cá nước ngọt và các loài ở Nam Bộ của Pellegrin J. Từ năm 1945 - 1954, do chiến tranh nên việc nghiên cứu bị gián đoạn. Giai đoạn từ năm 1946 - 1975 Các nhà Ngư loại học đã tiến hành điều tra nguồn lợi thủy sinh vật nói chung và các loài cá kinh tế nói riêng ở vịnh Bắc Bộ. Các công trình nghiên cứu về sinh 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học cá trong thời kỳ này được Nguyễn Phi Đính tổng kết lại trong công trình “Sơ lược điều tra tình hình nghiên cứu nguồn lợi cá vịnh Bắc Bộ” (1971) [7] như sau: - Năm 1957: Sở thủy sản Nam Hải đã công bố tài liệu về đặc tính sinh vật học của một số loài cá kinh tế vịnh Bắc Bộ, biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) trong đó có các loài cá Hồng, cá Lượng Nemipterus,… - Năm 1959 - 1960: Viện nghiên cứu Biển công bố “Đặc điểm sinh học, sự phân bố, thành phần thức ăn của 9 loài cá kinh tế” gồm cá Hồng, cá Phèn một sọc, cá Lượng ngắn vây đuôi, cá Trác dài vây đuôi, cá Trác ngắn vây đuôi, cá Miễn sành 2 gai, cá Mối vạch, cá Mối dài vây lưng và cá Lượng dài vây đuôi.
- Năm 1961 - 1962: Viện nghiên cứu Biển đã có báo cáo bổ sung về tuổi, sinh trưởng, sinh sản và phần bố của 9 loài cá kinh tế nói trên. - Năm 1964: Dương Thanh Đạt đề cập tới kinh nghiệm đánh bắt trong “Vịnh Bắc Bộ và nghề cá biển”. - Năm 1970: Trạm nghiên cứu thủy sản đã hoàn thành báo cáo cá Mòi, cá Trích vùng Cẩm Phả. Ngoài những công trình nghiên cứu trên, trong tạp chí Liên Xô và hội nghị Tây Bộ Thái Bình Dương có công bố một số báo cáo về đặc điểm sinh học như: cá Hồng vịnh Bắc Bộ (Trương Nhân Nhu, 1963); cá Ngừ, cá Trích (Bùi Đình Chung); cá Phèn hai sọc (Phạm Thược, 1963); cá Căng (Druzhinin và Nguyễn Văn Thái, 1963); cá Mối (Lê Đăng Phan, 1967); cá Nục (Nguyễn Bá Hùng, 1965) [19].
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên chỉ mới nêu lên được khái quát một số kết quả nghiên cứu về tuổi, sinh trưởng, sinh sản và thức ăn của các loài cá kinh tế mà chưa đi sâu phân tích từng đặc điểm sinh học của cá. Giai đoạn sau năm 1975 Khi đất nước đã hoàn toàn thống nhất, cùng với đội ngũ các nhà khoa học Việt Nam ngày cành lớn mạnh, các nghiên cứu biển ngày càng được quan tâm và đẩy mạnh với nhiều chương trình nghiên cứu về sinh vật biển nói chung và cá biển 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nổi bật là đề tài “Nghiên cứu nguồn lợi cá nổi ven bờ vịnh Bắc Bộ” được tiến hành với sự phối hợp của Viện nghiên cứu hải sản Hải Phòng và Viện Hải Dương học Nha Trang, trong những năm 1974 - 1976 [2]. Sau năm 1990, một loạt các đề tài, dự án nghiên cứu được thực hiện như: - Năm 1990: Vũ Ngọc Ân, Lê Đăng Phan đã đánh giá nguồn lợi và khả năng khai thác hải sản ở các tỉnh miền Trung, tác giả đã thống kê danh sách 10 loài cá kinh tế [1].
- Năm 1991: Nguyễn Phi Đính nghiên cứu sự phân bố và di cư của cá nục Sò (Decapterus maruadsi) trong vùng biển Việt Nam [8]. - Năm 1992: Hồ Nhật Đán thống kê trên 400 loài cá biển có chứa các loại độc tố như saxitoxin, hitamin,… [5].01 về điều tra nghiên cứu nguồn lợi các loài đặc sản vùng biển xa bờ Việt Nam [2]. - Năm 1995 - 1997: Dự án “Đánh giá nguồn lợi cá biển lớn ở biển Việt Nam” dưới sự tài trợ của tổ chức JICA (Nhật Bản) [2]. - Năm 1999: Lê Như Xuân và Nguyễn Trọng Nho đưa ra các đặc điểm sinh học sinh sản và kỹ thuật sản xuất giống cá Sặc rằn (Trichogaster petroralis Regan) [21].
- Năm 2001: Trần Văn Đan đã nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản và khả năng sản xuất giống tự nhiên của cá Bớp (Bostrichthys sinensis) [4]. - Năm 2002: Nguyễn Quang Huy đã giới thiệu một số đặc tính sinh sản và nuôi cá Giò (Rachyentron canadum) tại vùng biển Việt Nam [15]. - Năm 2003, Nguyễn Quang Hùng và Đỗ Văn Khương đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu áp dụng và hoàn thiện công nghệ sinh sản nhân tạo cá Giò (Rachyentron canadum)” [14]. - Năm 2005: Lê Xân công bố về một số đặc điểm sinh học của 2 loài cá Song vằn Epinephelus fucoguttatus và cá Song chuột Cromileptes altivelis nuôi tại Cát Bà, Hải Phòng [26].
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Năm 2006: Đào Mạnh Sơn, Nguyễn Viết Nghĩa đã nghiên cứu đặc điểm di cư của cá Ngừ đại dương (Thunnus albacares và T. obesus) và tập tính phân bố của nó [23]. - Năm 2009: Nguyễn Hữu Quyết nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học và đưa ra đề xuất giải pháp phát triển loài cá Dầy (Cyprinus centralus Nguyen et Mai, 1994) ở Thừa Thiên Huế [21]. - Năm 2010: Lê Hải Thiện đưa ra một số đặc điểm sinh học của cá Ngân (Alepes kneinii), cá Chỉ vàng (Selaroides leptolepis) và cá Tráo mắt to (Selar crumenophthalmus) ở vùng biển Sóc Trăng, Bạc Liêu [24].
Những nghiên cứu về khu hệ và sinh học cá ở vùng biển Bình Thuận Nguồn lợi hải sản vùng biển tỉnh Bình Thuận rất phong phú và đa dạng. Các nghiên cứu về nguồn lợi cá biển Bình Thuận chủ yếu được tổng hợp chung trong các công trình nghiên cứu của khu vực và trong phạm vi cả nước. Nổi bật nhất trong các nghiên cứu về cá biển Bình Thuận là đề tài “Điều tra nguồn lợi cá tầng giữa và tầng trên vùng viển Thuận Hải - Minh Hải” giai đoạn 1978 - 1980 với ấn phẩm “Nghiên cứu nguồn lợi cá biển Thuận Hải” do viện nghiên cứu Hải sản phát hành năm 1985 trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu từ đề tài này cũng như nhiều đề tài khác [19]. - Năm 1990, tác giả Lê Đức Tố và nnk., Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) thực hiện đề tài “Nghiên cứu điều kiện tự nhiên và nguồn lợi vùng biển Thuận Hải” và đã đưa ra những dẫn liệu cơ bản về quan hệ giữa các yếu tố môi trường và nguồn lợi hải sản cũng như xây dựng được bản đồ hải dương học nghề cá cho vùng biển Thuận Hải (trước đây) [19].
- Năm 1992, hai tác giả Vũ Huy Thủ và Trần Văn Bun đã cho ra đời ấn phẩm “Nguồn lợi hải sản vùng biển Trung Bộ Việt Nam”, trong đó đã đề cập rất nhiều đến nguồn lợi hải sản cũng như điều kiện tự nhiên và một số vấn đề khác liên quan đến nghề cá của vùng biển miền Trung (với Thuận Hải là tỉnh cực Nam) [18]. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Năm 1995, hai tác giả Nguyễn Xuân Huấn và Đoàn Bộ công bố bài báo “Áp dụng mô hình phân tích quần thể thực tế (VPA) để đánh giá biến động 2 loài cá kinh tế: Nục sò - Decapterus maruadsi (Temm.) và Mối vạch - Saurida undosquamis (Richardson) tại vùng biển Bình Thuận” [13]. - Năm 1996, tác giả Nguyễn Xuân Huấn thực hiện đề tài “Đặc điểm sinh trưởng, biến động trữ lượng và dự báo khả năng khai thác một số loài cá kinh tế ở vùng biển Bình Thuận - Ninh Thuận” nhằm đánh giá và lựa chọn một số mô hình thích hợp cho nghiên cứu sinh trưởng, tử vong, biến động đàn cá cũng như đánh giá biến động trữ lượng, sinh khối và dự báo khả năng khai thác của 5 loài cá kinh tế quan trọng hàng đầu ở vùng biển Bình Thuận - Ninh Thuận (cá Nục sò, cá Chỉ vàng, cá Mối vạch, cá Mối thường, cá Mối hoa) [12]. - Năm 1997 - 1998, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Bình Thuận cùng với viện Hải dương học Nha Trang đã thực hiện đề tài “Xây dựng cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học Quốc gia tại Cù Lao Cau tỉnh Bình Thuận” [19].
- Năm 2001, Sở Thủy sản tỉnh Bình Thuận tiếp tục thực hiện đề tài “Nghiên cứu biện pháp nâng cao hiệu quả thả chà tập trung cá tại Bình Thuận” [38]. - Năm 2005 - 2006, Sở thủy sản tỉnh Bình Thuận (nay thuộc Sở Nông Nghiệp và phát triển nông thôn) đã thực hiện đề án “Quy hoạch và phát triển kinh tế thủy sản tỉnh Bình Thuận đền năm 2010” và sau đó “Rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển kinh tế thủy sản tỉnh Bình Thuận đến năm 2010, định hướng 2020”. Kết quả thực hiện đề án đã đề cập nhiều vấn đề xác thực đối với nghề cá, quản lí nghề cá cũng như định hướng phát triển cho kinh tế thủy sản tỉnh Bình Thuận [38]. - Năm 2007, tác giả Nguyễn Thành Nam thực hiện đề tài “Nghiên cứu đa dạng sinh học cá ven biển Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tạo cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp khai thác và sử dụng bền vững” [18].