MỤC LỤC Phần 1. Tổng quan về hệ thống kế toán tài chính. Sơ lược sự ra đời của hệ thống kế toán tài chính thế giới và Việt Nam. Các giai đoạn phát triển và hình thành hệ thống kế toán tài chính.
Các giai đoạn hình thành và phát triển hệ thống kế toán tài chính trên Thế giới. Các giai đoạn hình thành và phát triển hệ thống kế toán tài chính ở Việt Nam 6 Phần 2. Về nội dung chuẩn mực kế toán Việt Nam và thế giới. Nội dung các chuẩn mực kế toán Việt Nam.1 Đợt 1: Ngày 31/12/2001 ban hành 4 chuẩn mực.2 Đợt 2: Ngày 31/12/2002 ban hành 6 chuẩn mực.3 Đợt 3:Ngày 30/12/2003 ban hành 6 chuẩn mực.4 Đợt 4: Ban hành 6 chuẩn mực (Ban hành và công bố theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15 tháng 02 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) 89 2.5 Đợt 5: Ngày 28/12/2005 ban hành 4 chuẩn mực.
Tổng quan về sự khác nhau giữa IAS/ Us.1 Giới thiệu chung.2 Một số điểm khác nhau cơ bản.3 Sự khác nhau về mặt nội dung. Đối chiếu các chuẩn mực kế toán IAS/ Us.1 Bảng đối chiếu:.1 Giải thích:. Đánh giá về tình tối ưu của chuẩn mực kế toán Việt Nam. Một số ý kiến về sự bất cập giữa VAS với các chuẩn mực thế giới và giải pháp để hoàn thiện VAS.1 Một số ý kiến về sự bất cập giữa VAS với các chuẩn mực thế giới.2 Giải pháp để hoàn thiện VAS.
Về khả năng thực thi các chuẩn mục kế toán Việt Nam. Tổng quan về hệ thống kế toán tài chính 1. Sơ lược sự ra đời của hệ thống kế toán tài chính thế giới và Việt Nam Kế toán là một công cụ hữu hiệu giúp cho không chỉ các nhà quản lý nắm được thực trạng tài chính nhằm hoạch định kế hoạch phát triển cho tương lai của công ty mà còn là mối quan tâm của các nhà đầu tư tài chính, các ngân hàng, Nhà nước… nhằm phục vụ cho những mục đích của mình. Hạch toán kế toán gắn liền với sản xuất do đó ngay từ thời kỳ nguyên thuỷ người ta đã sử dụng hạch toán kế toán để ghi chép theo dõi quá trình sản xuất.
Các bản ghi kế toán đã xuất hiện từ năm 8500 trước công nguyên ở Trung Á, viết bằng đất sét thể hiện các hàng hoá như bánh mỳ, dê, quần áo… Bản ghi này được gọi là bullae, một dạng hoá đơn ngày nay. Bullae được gửi cùng với hàng hoá nhằm giúp người nhận kiểm tra lại chất lượng và giá cả của số hàng mình nhận được. Lúc này vẫn chưa có hệ số đếm khác nhau cho đến năm 850 trước công nguyên, hệ số đếm Hindus-Arabic ra đời và được sử dụng cho đến ngày nay. Việc giữ các bản ghi vẫn chưa được hình thức hoá cho tới mãi thế thứ 13, xuất phát từ các giao dịch kinh doanh và ngân hàng tại Florence, Venice and Genoa.
Tuy nhiên, các tài khoản không thực sự thể hiện được bản chất nghiệp vụ giao dịch và hiếm khi cân đối. Tuy nhiên phải đến năm 1299 con người mới phát triển hệ thống thông tin tài chính gồm tất cả các yếu tố cấu thành của hệ thống kế toán kép và vào năm 1494 Luca Pacioli tác giả cuốn Summa hệ thống kế toán kép mới được miêu tả một cách cụ thể và rõ nét. Sau đó 377 năm Josial Wedwood là người đầu tiên hoàn thiện hệ thống kế toán giá thành. Hệ thống kế toán từ đó đã ngày càng được hoàn chỉnh hơn với việc hoàn thiện hệ thống kế toán giá thành hiện đại của Donaldson Brown- Giám đốc điều hành của General Motor.
Hiện nay trên thế giới đã có một tổ chức riêng ban hành các chuẩn mực kế toán quốc tế. Tổ chức thiết lập chuẩn mực kế toán quốc tế gồm Tổ chức ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRSF), Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), Hội đồng cố vấn chuẩn mực (SAC), Hội đồng hướng dẫn báo cáo tài chính quốc tế (IFRS IC). * IASCF có trách nhiệm giám sát IASB, là tổ chức ban hành chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS). SAC có trách nhiệm tư vấn các vấn đề kỹ thuật và lịch 2 làm việc cho IASB.
IFRIC, dưới sự quản lý của IASB, có trách nhiệm ban hành các hướng dẫn báo cáo tài chính quốc tế. * ISRSF gồm mười chín (19) ủy thác viên gồm sáu (6) từ Bắc Mỹ, sáu (6) từ châu Âu, bốn (4) từ châu Á – Thái Bình Dương, và ba (3) từ bất kỳ khu vực nào khác miễn là sự cân bằng về khu vực địa lý được giữ vững. * IASB có 14 thành viên đến từ 9 quốc gia có trách nhiệm thiết lập các chuẩn mực kế toán. Các thành viên của IASB được lựa chọn theo tiêu chuẩn trình độ chuyên môn chứ không phải theo khu vực bầu cử hay quyền lợi khu vực.
Các thành viên của IASB có nguồn gốc là các kiểm toán viên thực hành, người lập các báo cáo tài chính, người sử dụng các báo cáo tài chính, và từ hàn lâm. Bảy trong 14 thành viên có trách nhiệm trực tiếp liên hệ với một hay nhiều hơn các nhà thiết lập chuẩn mực quốc gia. Việc công bố một chuẩn mực, dự thảo, hay hướng dẫn cần được sự tán thành của 8 trên 14 thành viên. * Hội đồng cố vấn chuẩn mực (SAC) bao gồm các nhóm cá nhân có các nguồn gốc chức năng và khu vực địa lý khác nhau nhằm cố vấn cho IASB và đôi khi, cho các ủy thác viên.
* Các thành viên của IFRIC đến từ các khu vực địa lý rộng rãi, có trình độ giao dịch cao, đại diện của các kế toán viên trong các ngành nghề và người sử dụng các báo cáo tài chính. * Thêm vào đó, tất cả các thành viên của IASB có trách nhiệm liên hệ với các nhà thiết lập chuẩn mực quốc gia không có thành viên của IASB trong tổ chức lập quy của họ. Ngoài ra, nhiều quốc gia này cũng có mặt trong Hội đồng cố vấn chuẩn mực. * Như vậy, trên thế giới hệ thống tài chính kế toán đã có được sự thống nhất cơ bản để các nước dựa vào đó xây dựng các chuẩn mực tài chính kế toán của mình.
Các giai đoạn phát triển và hình thành hệ thống kế toán tài chính 1. Các giai đoạn hình thành và phát triển hệ thống kế toán tài chính trên Thế giới 1. Thời Cổ đại 3 Khoảng thế kỷ 36 TCN tồn tại các quy tắc pháp lý quy định về việc ghi chép tài sản và các giao dịch liên quan đến tài sản. Vì thế, gần như toàn bộ các giao dịch được ghi lại.
Kế toán ở Ai Cập cổ đại: sử dụng giấy làm từ cói, do đó việc ghi chép chi tiết trở nên dễ dàng. Người ghi sổ kế toán phải lưu trữ cẩn thận các tài liệu ghi chép và lưu trữ. Tuy nhiên, phương pháp đo lường giá trị đơn không thể mô tả tất cả hàng hoá, do đó làm cho việc tích luỹ và tổng kết tài sản trở nên khó khăn, ảnh hưởng đến sự phát triển của cả hệ thống kế toán. Kế toán ở Trung Hoa TCN được sử dụng cho mục đích đánh giá hiệu quả của chương trình Chính phủ và những người vận hành chương trình đó.
Vào thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên, người Hy Lạp áp dụng “ Kế toán công khai” để tạo điều kiện cho toàn thể công dân theo dõi tình hình tài chính chính phủ. Các ngân hàng giữ sổ ghi chép, tiền cho vay, và thậm chí thực hiện các giao dịch chuyển tiền cho các cư dân ở các thành phố cách xa nhau thông qua các ngân hàng trong cùng hệ thống. Thời Trung đại Phương pháp ghi sổ kép ra đời vào thế kỷ 14 ở Italy gắn liền với đóng góp của Luca Pacioli dựa trên cơ sở thống nhất 7 nhân tố tiền đề: Tài sản riêng, vốn, thương mại, tín dụng, chữ viết, tiền tệ, số học. Nhờ đó, thương mại và trao đổi buôn bán đó được đẩy lên tầm phát triển mới và loài người đó tỡm được phương pháp xác định lợi nhuận chuẩn xác hơn.
Kể từ Pacioli, phương pháp ghi sổ được thay đổi với hệ thống gồm các thành phần sau: bản ghi, nhật ký, sổ cái. Kết thúc chu trình kế toán là việc lập bảng cân đối thử. Các số dư bên nợ trên sổ cái được ghi vào bên trái của bảng cân đối cùng các số dư bên có trên sổ cái được ghi vào bên phải của bảng cân đối. Nếu việc ghi sổ đó được thực hiện chuẩn xác theo bảng cân đối sẽ cân giữa hai bên.
Thời Cận đại và Đương đại Thế kỷ 19 ở Scotland, Anh và Mỹ Scotland là nơi sản sinh các nguyên tắc kế toán và cùng là nơi có những hội kế toán công khai lâu đời nhất. Kế toán trở nên có vai trò đặc biệt quan trọng với những ảnh hưởng không thể phủ nhận đến sự phát triển kinh tế. 4 Sau Scotland, kế toán phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới. Vào giữa thế kỷ 19, Anh trở thành trung tâm tài chính của thế giới.
Sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống tài chính đặt ra yêu cầu về kế toán phá sản ở cả những doanh nghiệp mạnh và những doanh nghiệp đang trên bờ phá sản. Năm 1880, thành viên Hiệp hội kế toán Anh sử dụng danh hiệu kế toán viên chuyên nghiệp khi hành nghề. Cuối những năm 1800, thành lập Hiệp hội Kế toán Mỹ, tiền thân của Hiệp hội Kế toán có giấy chứng nhận hành nghề Mỹ. Thế kỷ 20 ở Mỹ Đầu thế kỷ 20, do sự xuất hiện của các vụ scandal tài chính liên quan tới độc quyền và tư bản hoá quá mức, Uỷ ban thương mại giữa các tiểu bang (ICC) của Mỹ đã ban hành hệ thống kế toán thống nhất - được coi là ví dụ đầu tiên về việc kế toán được sử dụng như một công cụ của luật pháp liên bang.
Khác với Anh - sử dụng bảng cân đối nhằm quản lý việc sử dụng vốn góp của cổ đông của ban lãnh đạo doanh nghiệp, bảng cân đối kế toán ở Mỹ chủ yếu nhằm phục vụ cho các ngân hàng - những người quan tâm đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp hơn là khả năng thu lợi nhuận. Vào đầu năm 1920, hoạt động kinh doanh ở Mỹ có sự thay đổi đáng kể do đợt sụt giá hàng tồn kho nghiêm trọng (giá bán buôn giảm đến 40%). Hậu quả là dòng tiền lưu chuyển chậm, các doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và thiếu hụt tín dụng. Để đối phó, các hóng kinh doanh sử dụng các nguồn tài chính ít chặt chẽ hơn để bổ sung cho dòng tiền hiện tại, một trong số những nguồn tài chính được ưa chuộng là phát hành cổ phiếu.