đặt vấn đề, tổng kết điều tra, năng lực, trình độ nghiên cứu tài liệu dạy học và các kết quả thi kiểm tra cuối kỳ, giữa kỳ. Kết quả đánh giá chia thành 4 mức là tốt, khá, trung bình và yếu. Bao gồm khối lượng công việc (khối lượng công tác giáo dục, công tác dạy học, công tác nghiên cứu và viết giáo trình, thơì gian bồi dưỡng, dạy thêm.), chất lượng công việc dạy học, thành quả công việc (bao gồm các giải thưởng), các thành tích và cống hiến cho học sinh, cho nhà trường và cho xã hội. Kết quả đánh giá chia thành 4 mức là tốt, khá, trung bình và yếu.
Căn cứ vào nội dung và tiêu chuẩn đánh giá, kết quả đánh giá chia thành 4 mức là tốt, khá, trung bình và yếu. Tác giả Nguyễn Phương Nga [20] đã tổng hợp các nghiên cứu dựa trên cơ sở các kết quả nghiên cứu và những phân tích, đánh giá những thuận lợi, khó khăn và hiệu quả của các mô hình đánh giá giảng viên và các công trình khoa học liên quan được công bố ở châu Âu, châu Á, Hoa Kỳ và Việt Nam, 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com qua đó tác giả đã thiết kế Mô hình đánh giá giả thiết để thực nghiệm đánh giá theo mẫu ngẫu nhiên (xem Mô hình 1. Trên cơ sở lý luận: hoạt động giảng dạy trong môi trường đại học là một hoạt động không thể tách rời hoạt động nghiên cứu khoa học, nó là một quy trình hoạt động tương tác có ảnh hưởng chặt chẽ đến nhau, trong đó nhân tố xúc tác tiểm ẩn nhưng đóng vai trò quyết định mức độ thành đạt trong cả giảng dạy và nghiên cứu khoa học là hoạt động phát triển năng lực chuyên môn của giảng viên. Vì vậy Mô hình 1.1 đã giả thiết để đánh giá “hoạt động giảng dạy” và “nghiên cứu khoa học”, cần phải đánh giá nhân tố “Phát triển năng lực chuyên môn”.
Vì thế Mô hình 1.1 đã thể hiện mối quan hệ tương tác ảnh hưởng của nhân tố “Phát triển năng lực chuyên môn” bằng những mũi tên hai chiều tới hai nhân tố “Giảng dạy” và ‘Nghiên cứu khoa học”. Hoạt động SV đánh giảng dạy giá Chủ nhiệm bộ môn /CN khoa Phát triển năng Giảng viên lực chuyên môn tự đánh giá Đồng nghiệp Nghiên cứu khoa học Mô hình 1. Mô hình thực nghiệm đánh giá giảng viên Theo Mô hình giả thiết trên theo tác giả có 3 tiêu chuẩn đánh giá như sau: Tiêu chuẩn 1. Hoạt động giảng dạy Tiêu chuẩn 2.
Phát triển năng lực chuyên môn Tiêu chuẩn 3. Hoạt động NCKH 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để có thể đo lường và định lượng đánh giá được các hoạt động theo ba tiêu chuẩn này, theo tác giả Nguyễn Phương Nga cần xây dựng các chỉ số đánh giá cụ thể. Trên cơ sở các nghiên cứu và phân tích, các công trình khoa học trên thế giới và các kinh nghiệm đánh giá giảng viên trong các trường ĐH trên thế giới và tại Việt Nam, đặc biệt là các tiêu chí thi đua đã và hiện đang được dùng để đánh giá giảng viên hàng năm trong một số trường đại học, tác giả đã thực hiện nhiều phân tích và thử nghiệm các bảng hỏi kết hợp với xác định theo phương pháp chuyên gia, đã chọn lọc ra các chỉ số đánh giá để lượng hoá đo lường các yêu cầu của 3 tiêu chuẩn đánh giá này. Các chỉ số đánh giá phản ảnh những nội hàm cần đạt được đối với từng tiêu chuẩn cụ thể bao gồm : Tiêu chuẩn 1.
Hoạt động giảng dạy - Khả năng và trách nhiệm truyền đạt kiến thức bao gồm: thực hiện đủ khối lượng và nội dung kiến thức của môn học đảm nhận giảng dạy, bài giảng có nội dung khoa học tốt, phù hợp mục tiêu chương trình đào tạo, cập nhật được những thông tin, kiến thức hiện đại liên quan, phương pháp kiểm tra kết quả học tập … - Kỹ năng giảng dạy: truyền đạt, giao tiếp, tổ chức giảng dạy, cải tiến PPGD đáp ứng yêu cầu đào tạo chất lượng cao … - Kỹ năng quản lý lớp, thu hút sự chú ý của sinh viên - Tư vấn, hướng dẫn sinh viên/học viên/NCS - Biên soạn giáo trình, bài giảng, tài liệu tham khảo … Tiêu chuẩn 2. Phát triển năng lực chuyên môn - Tham gia các hoạt động chuyên môn của khoa/trường. - Tự bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kỹ năng ngoại ngữ, công nghệ tin học và chuyên môn chuyên sâu. - Cập nhật với sự phát triển trong lĩnh vực chuyên môn của bản thân 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Được bồi dưỡng hoặc tự bồi dưỡng nâng cao phương pháp và kỹ năng giảng dạy và tổ chức quản lý lớp Tiêu chuẩn 3.
Hoạt động NCKH - Tham gia NCKH: chủ trì hoặc tham gia các nghiên cứu NCKH các cấp - Công bố các công trình nghiên cứu; - Biên tập sách, biên dịch tài liệu; - Các hoạt động sáng tạo: sáng tác, ứng dụng có điều chỉnh các phát minh, thành tựu của KH vào giảng dạy và NCKH; - Hướng dẫn NCKH, tham gia nghiệm thu, thẩm định các NCKH, chương trình, giáo trình, sách, chuyên khảo, tài liệu tham khảo, tư vấn học thuật. - Phổ biến/báo cáo các công trình nghiên cứu trong các hội thảo/hội nghị KH. Từ những chỉ số đánh giá trên và theo giả thiết trong Mô hình 1 tác giả đưa ra 4 nguồn đánh giá (4 nhóm người đánh giá), và đã thiết kế 4 Phiếu đánh giá bao gồm: (1). Phiếu sinh viên đánh giá; (2).
Phiếu đồng nghiệp đánh giá; (3). Phiếu dự giờ; (4). Phiếu tự đánh giá của giảng viên. Có thể thấy rằng trong hàng loạt các nghiên cứu của mình và cộng sự tác giả Nguyễn Phương Nga đã tập trung xây dựng bộ công cụ chuẩn chỉ số đánh giá thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên dùng trong các cơ sở giáo dục đại học.
Tác giả Nguyễn Thị Tuyết [33] đã tổng hợp, phân tích một số tiêu chí đánh giá giảng viên qua kinh nghiệm một số nước Hoa Kỳ, Úc, CaNaDa. Theo tác giả tổng kết các thành viên trong mỗi nhà trường đại học, gọi chung là giảng viên sẽ được đánh giá dựa vào sự đóng góp của họ trong lĩnh vực giảng dạy, nghiên cứu khoa học, và phục vụ xã hội. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, với sự so sánh, phân tích, tổng hợp mô hình chỉ số đánh giá nhiệm vụ giảng viên qua kinh nghiệm một số nước trên thế giới, tác giả Lê Đức Ngọc, tác giả Nguyễn Phương Nga, tác giả Nguyễn Thị Tuyết.đã cung cấp cho chúng ta một cái nhìn tổng thể về mô hình xây dựng chỉ số thực hiện nhiệm vụ giảng viên, là chỉ dẫn quan trọng để chúng ta áp dụng, xây dựng chỉ số thực hiện nhiệm vụ giảng viên ở Việt Nam. Những mô hình kinh nghiệm nói trên đã bao quát những chỉ số thực hiện nhiệm vụ cơ bản của giảng viên: Hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học, dịch vụ xã hội.
Nhưng các nghiên cứu chưa chỉ ra cho chúng ta thấy trong những mô hình tổng kết đó có mô hình xây dựng chỉ số đánh giá về tinh thần trách nhiệm, thái độ trong lao động của giảng viên. Trong đề án nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Đại học Quốc gia Hà Nội do một nhóm tác giả nghiên cứu, tác giả Nguyễn Quý Thanh làm chủ đề án với tên gọi [30]: Cơ sở khoa học, thực tiễn và các giải pháp nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công việc của cán bộ công chức, viên chức Đại học Quốc gia Hà Nội, thực hiện năm 2011 hoàn thành báo cáo đề án năm tháng 10 năm 2013. Định hướng nghiên cứu của Đề án là xây dựng cơ sở khoa học để nghiên cứu mô hình các chỉ báo liên quan đến tinh thần trách nhiệm trong công việc dựa trên sự phân tích nguồn gốc, bản chất và những yếu tố tác động đến nó để từ đó định ra các chính sách, nhóm giải pháp nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công việc ở ĐHQGHN (thông qua văn bản “Hướng dẫn đánh giá và các giải pháp nâng cao tinh thần trách nhiệm của CCVC ĐHQGHN”). Xuất phát từ định hướng nghiên cứu trên đề án khảo sát ý kiến của năm nhóm đích khác nhau là cán bộ quản lý, cán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên cứu, cán bộ hỗ trợ đào tạo và nhóm các nhân viên phục vụ.
Bảng hỏi sẽ gồm những câu hỏi về tinh thần trách nhiệm trong công việc. Vì đây là công cụ đo thái độ, vốn rất phức tạp và khó đo, vì vậy đề án sử dụng Thang Likert Tổng cộng (Likert Summated Scale) với 7 điểm đo. Nội dung các item 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com về tinh thần trách nhiệm/thái độ với công việc được soạn thảo trên cơ sở thích ứng bảng hỏi chuẩn hóa của đại học Minesota, phiên bản 1977 đầy đủ (Minesota Satisfaction Questionaire, Long form 1977). Theo đề án, tác giả đã xây dựng một bộ phiếu đánh giá thực thi công việc của giảng viên bao gồm 10 tiêu chuẩn, và 33 tiêu chí đánh giá việc thực thi công việc của giảng viên Đại học Quốc gia Hà Nội (trong các tiêu chuẩn và tiêu chí nói trên tác giả đã chú ý xây dựng tiêu chuẩn, tiêu chí nhằm đánh giá tinh thần trách nhiệm, thái độ trong lao động của cán bộ công chức, viên chức Đại học Quốc gia Hà Nội).
Đề án đã thực hiện lấy ý kiến đánh giá của các các bộ quản lý trực tiếp đồng thời đề án cũng sử dụng phiếu đánh giá riêng cho từng nhóm cán bộ về kết quả thực hiện nhiệm vụ từ phía cấp trên. Tại phiên họp lần thứ 6 giao ban công tác đảm bảo chất lượng Đại học Quốc gia Hà Nội [30]. Chủ đề của phiên họp là “Tinh thần trách nhiệm của cán bộ công chức, viên chức trong ĐHQGHN”. Tại hội nghị, tác giả Nguyễn Quý Thanh đã trình bày một số đánh giá ban đầu về môi trường làm việc và tinh thần trách nhiệm của 1026 cán bộ công chức, viên chức trong Đại học Quốc gia Hà Nội.
Có thể thấy rằng với đề án này yếu tố tinh thần trách nhiệm, thái độ trong công việc của giảng viên đã được đề cập và được coi như là ”công cụ vạn năng” trong thực hiện nhiệm vụ của giảng viên. Xuất phát từ nội dung đề án, phiếu khảo sát, số liệu điều tra, báo cáo kết quả tổng hợp của đề án.