phần Mở đầu và phần Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận án đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng với các nội dung chính nhƣ sau: Chƣơng 1 : Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết Ở chƣơng này, ngoài phần tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc và trong nƣớc liên quan đến đề tài, luận án tập trung trình bày và thảo luận một số vấn đề có liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu, thảo luận các khái niệm then chốt, đồng thời đƣa ra quan điểm lựa chọn làm cơ sở cho luận án nhƣ vấn đề ý niệm và ý niệm hóa, khái niệm ẩn dụ ý niệm, đặc điểm và phân loại ẩn dụ ý niệm, ánh xạ, cơ chế ánh xạ và sơ đồ ánh xạ. Ngoài ra, cũng ở chƣơng này, luận án còn trình bày một số quan niệm về tình cảm và cảm xúc, sự giống và khác nhau giữa hai phạm trù này theo quan điểm của các nhà tâm lí học và ngôn ngữ học, từ đó đề cập đến các quan niệm và định nghĩa về hai phạm trù cảm xúc cơ bản là “vui mừng” và “tức giận”, đối tƣợng nghiên cứu chính của luận án. 8 Chƣơng 2 : Đối chiếu ẩn dụ ý niệm biểu đạt cảm xúc “vui mừng” trong tiếng Nhật và tiếng Việt Trong chƣơng 2, luận án trình bày thống kê về các biểu thức ngôn ngữ chứa ẩn dụ ý niệm biểu đạt cảm xúc “vui mừng” qua kết quả thu thập đƣợc, các miền nguồn thông dụng trong các biểu thức ẩn dụ về “vui mừng” ở cả hai ngôn ngữ cũng nhƣ các miền nguồn đặc thù chỉ có riêng trong mỗi ngôn ngữ. Ngoài ra, cũng tại chƣơng này, luận án đề cập đến cơ chế ánh xạ miền nguồn vào miền đích “vui mừng” ở hai ngôn ngữ và bƣớc đầu làm sáng tỏ vấn đề cơ chế này có hoàn toàn giống nhau ở hai ngôn ngữ hay không trong bối cảnh cả Nhật Bản và Việt Nam đều là các nƣớc ở khu vực Châu Á, có phong tục và lối suy nghĩ gần nhau; luận giải nguyên nhân dẫn đến những khác biệt (nếu có) trong cơ chế ánh xạ miền nguồn vào miền đích ở các biểu thức ẩn dụ loại này ở hai thứ tiếng.
Chƣơng 3 : Đối chiếu ẩn dụ ý niệm biểu đạt cảm xúc “tức giận” trong tiếng Nhật và tiếng Việt Chƣơng 3 đƣợc triển khai theo cách thức giống chƣơng 2. Ngoài ra, luận án còn có phần Phụ lục là danh mục các truyện ngắn đƣợc sử dụng làm ngữ liệu khảo sát, hệ thống biểu thức ngôn ngữ có chứa ẩn dụ ý niệm biểu đạt cảm xúc “vui mừng” và “tức giận” đƣợc sử dụng để phân tích trong luận án (phụ lục từ 1 đến 4). 9 NỘI DUNG Chƣơng 1 : TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT Cuối thế kỉ XX, đầu thế kỷ XXI đã xuất hiện một khuynh hƣớng nghiên cứu ngôn ngữ mới thu hút sự tham gia đông đảo của giới ngôn ngữ học, đó là chuyển từ khảo sát ngữ liệu của những miền có thể quan sát trực tiếp sang nghiên cứu những miền trừu tƣợng hơn, với những vấn đề không quan sát đƣợc của con ngƣời nhƣ cảm xúc, trí tuệ, văn hóa, tri thức, niềm tin, tín ngƣỡng. và mối liên hệ giữa hai miền này.
Xu thể nghiên cứu ngôn ngữ này đƣợc đặt tên là Ngôn ngữ học tri nhận. Trong ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ không còn đƣợc coi nhƣ là một sản phẩm đơn thuần của ngôn ngữ, mà đƣợc coi là một hiện tƣợng của tri nhận, là một phƣơng thức tƣ duy và hành động của con ngƣời đƣợc thể hiện qua ngôn ngữ. Cùng với hoán dụ, ẩn dụ đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tri nhận của con ngƣời, đồng thời cũng ảnh hƣởng đến tƣ duy và hành động của con ngƣời. Lakoff từng chỉ ra ẩn dụ “nằm ở vị trí hạt nhân của giao tiếp và tri nhận”, ẩn dụ là quá trình tri nhận của con ngƣời mƣợn sự trải nghiệm về một lĩnh vực nào đó của thế giới khách quan để thuyết giải hoặc lý giải một lĩnh vực khác, lĩnh vực của các khái niệm trừu tƣợng nhƣ những ý niệm cảm xúc, lĩnh vực tinh thần.
Từ trƣớc đến nay đã có rất nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc quan tâm nghiên cứu mảng đề tài này dƣới nhiều góc độ khác nhau. Sau đây, chúng tôi sẽ điểm lại và phác họa bức tranh tổng quát về tình hình nghiên cứu ẩn dụ ý niệm nói chung và ẩn dụ biểu đạt cảm xúc nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam, từ đó xác định cơ sở lí luận có tính đƣờng hƣớng cho đề tài. Tổng quan về đề tài nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm Ẩn dụ là một hiện tƣợng phổ biến trong ngôn ngữ, luôn thu hút sự quan tâm của các học giả trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ ngôn ngữ học, tâm lý học, phong cách học, nghiên cứu văn học… Ngôn ngữ học tri nhận cho rằng: ẩn dụ nằm trong hệ thống tƣ duy, thể hiện tƣ duy của con ngƣời.
Ẩn dụ là một phần của ngôn ngữ và là một phần của tri nhận. Chính các ẩn dụ ngôn ngữ sẽ phối hợp với nhau, tạo nên ẩn dụ ý niệm. Trong hơn 300 năm qua, các nhà triết học và ngôn ngữ học Châu Âu đã bƣớc đầu đƣa ra đƣợc những nguyên lý và một số kết quả nghiên cứu về lý thuyết ẩn dụ tri nhận. Trong số những học giả có thể xem nhƣ là tổ tiên của phƣơng pháp tri nhận về ẩn dụ có thể nêu ba tên tuổi tiêu biểu là: Kant, Blumenberg và Weinrich.
Quan điểm của ba nhà nghiên cứu này về mối quan hệ giữa ẩn dụ và tri nhận đã tạo nền tảng cho lý thuyết ẩn dụ ý niệm sau này. Kant [125] là ngƣời đầu tiên nghiên cứu khá cụ thể về thuyết tri nhận ẩn dụ. Kant đã xác định hai cội nguồn của tri thức: hiểu biết qua khái niệm và trực giác qua cảm xúc. Chỉ khi hai yếu tố này kết hợp với nhau thì mới có đƣợc tri thức thật sự.
Trực giác là một thành tố hết sức quan trọng của tri thức. Có những khái niệm không gắn liền trực tiếp với trực giác cảm xúc và những khái niệm này cần phải đƣợc gián tiếp “cảm xúc hóa”. Theo Kant, đây chính là chức năng tri nhận của ẩn dụ dù trong công trình của mình, ông không nhắc tới từ ẩn dụ (metaphor) mà đề cập tới biểu tượng (symbol). Để phản ánh một khái niệm trừu tƣợng nhƣ NHÀ NƢỚC, con ngƣời sử dụng nhiều cách so sánh (qua sự giống nhau) tạo nên cảm xúc gián tiếp hay tiền đề cho ẩn dụ.
Theo Kant, sự tƣơng tự (do trực giác, trải nghiệm mà có đƣợc) đƣa đến việc chúng ta biết ứng dụng khái niệm vào một sự vật có đƣợc từ trực giác cảm xúc, rồi ứng dụng quy luật phản ánh với trực giác vào một sự vật hoàn toàn khác, trong đó sự vật trƣớc chỉ là biểu tƣợng. Nhƣ vậy, tùy theo đƣờng lối, luật lệ sử dụng để cai trị mà một nhà nƣớc quân chủ sẽ đƣợc ý niệm hóa là một sinh vật, còn một nhà nƣớc chuyên 11 quyền đƣợc ý niệm hóa là một cỗ máy (cối xay). Kant cho rằng, ý niệm đầu tiên để chỉ cơ cấu có quyền hành tuyệt đối của nhà nƣớc quân chủ, còn ý niệm thứ hai để chỉ các mặt dân chủ của một nhà nƣớc. Điều đáng ca ngợi nhất trong công trình của Kant là ông khẳng định không có sự tƣơng tự giữa nhà nƣớc chuyên quyền và một cối xay nhƣng có sự giống nhau giữa quy luật phản ánh trong cả hai trƣờng hợp và thiệt hại mà cả hai đem lại, phản ánh qua ẩn dụ khái niệm tạo nên những điểm giống nhau nhờ những quan hệ tƣơng cận giữa các yếu tố và những liên kết chức năng của hai sự vật.
Có thể thấy, mặc dù không rõ ràng nhƣng quá trình “cảm xúc hóa hình tƣợng” của Kant dựa vào sự tƣơng tự đã xác lập đƣợc những nguyên lý quan trọng nhất của thuyết ẩn dụ sau này. Blumenberg [122] đề cập đến “ẩn dụ nền” (background metaphor), là “sự sử dụng ẩn dụ có hàm ý”. Những ẩn dụ nền này hầu nhƣ tƣơng đƣơng với những ẩn dụ ý niệm. Nhiều ẩn dụ mà Blumenberg đƣa ra làm chúng ta liên hệ tới các ẩn dụ ý niệm đƣợc ngôn ngữ học tri nhận phân tích nhƣ : “SỰ THẬT là ÁNH SÁNG”, “THẾ GIỚI là MỘT SINH VẬT / CÁI ĐỒNG HỒ / CON TÀU / RẠP HÁT hay là CUỐN SÁCH”, “LỊCH SỬ là MỘT CÂU CHUYỆN”, “CUỘC ĐỜI là MỘT CHUYẾN ĐI BIỂN”.
Những thí dụ này của Blumenberg phần nào xác định phƣơng hƣớng của việc chuyển đổi ẩn dụ từ phạm trù này (miền nguồn) sang phạm trù khác (miền đích). Dù những ví dụ này của ông đƣợc dẫn chủ yếu từ các tác phẩm cổ điển về triết học, văn học, khoa học nhƣng chúng ta phải thừa nhận ông đã có những đóng góp tiên phong về thuyết ẩn dụ ý niệm, về mối quan hệ giữa ẩn dụ ngôn ngữ và mô hình văn hóa cũng nhƣ sự phân tích về chức năng của ẩn dụ. Nhà ngôn ngữ học Đức Harald Weinrich trình bày thuyết ẩn dụ của mình trong một số bài viết xuất bản từ năm 1958 đến 1976. Weinrich [123] trình bày hiểu biết về ẩn dụ theo ý niệm, phân tích ẩn dụ ngôn ngữ không phải biệt lập mà theo trƣờng hình ảnh tƣơng tự nhƣ ẩn dụ ý niệm ngày nay.
Để giải thích cho những thí dụ ngôn ngữ, ông nêu ra trƣờng hình ảnh TỪ - TIỀN (WORD - CURRENCY), mà sau này theo 12 Lakoff và Johnson (1980) chúng ta có “TỪ là ĐỒNG XU (WORD are COINS)” hay “NGÔN NGỮ là TIỀN BẠC (LANGUAGE as FINANCE)”. Nhìn chung, mỗi trƣờng hình ảnh của Weinrich có thể diễn dịch thành ẩn dụ ý niệm theo mẫu “A là / nhƣ B” và ngƣợc lại. Nhƣ thế một số trƣờng hình ảnh của Weinrich có mẫu : CUỘC ĐỜI - HÀNH TRÌNH, THẾ GIỚI - RẠP HÁT, HÔN NHÂN - CHUYẾN XE, TÌNH YÊU - CHIẾN TRANH, CHIẾN TRANH - NGÔN TỪ. Theo Weinrich, trƣờng hình ảnh này không cần phải tạo nên vì nó có sẵn từ vô số các nguồn khác nhau, trƣờng hình ảnh có thể đƣợc hiểu nhƣ là sự nối kết của hai phạm trù ngữ nghĩa bao gồm thể “cho hình ảnh (image donor)” và thể “nhận hình ảnh (image recipient)”.
Thuật ngữ này của ông cũng giống nhƣ “phạm trù nguồn (source domain)” và “phạm trù đích (target domain)” trong ngôn ngữ học tri nhận ngày nay.