Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN ĐẠI TỪ - TỈNH THÁI NGUYÊN 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 1.1 Vị trí địa lý Đại Từ là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên. Địa giới của huyện vào nửa đầu thế kỉ XIX đã được sách Đại Nam nhất thống chí chép lại như sau: “Huyện Đại Từ ở cách phủ 60 dặm về phía nam, đông tây cách nhau 80 dặm, nam bắc cách nhau 30 dặm, phía đông giáp địa giới huyện Phổ Yên 68 dặm; phía tây giáp địa giới huyện Văn Lãng 12 dặm, phía nam đến núi Tam Đảo thuộc huyện Sơn Dương tỉnh Sơn Tây 18 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Phú Lương 12 dặm” [24; tr. Như vậy, diện tích xưa của huyện Đại Từ nếu xét với ngày nay nhỏ hơn rất nhiều (huyện Đại Từ ngày nay bao gồm cả huyện Văn Lãng khi xưa).
Sau này, sách Đồng Khánh dư địa chí miêu tả chi tiết về vị trí xưa của huyện Đại Từ:“Huyện Đại Từ cách phủ lỵ 60 dặm, kiêm nhiếp huyện Phú Lương. Huyện lỵ đặt tại xã Hùng Sơn, tổng Hùng Sơn. Thành đất đắp hình vuông, mỗi chiều dài 15 trượng, chu vi 72 trượng, cao 5 thước, dày 1 trượng, 4 mặt có hào rộng 1 trượng, sâu 3 thước, ngoài hào có lũy trúc bao quanh. Huyện hạt phía đông giáp xã Kim Bảng huyện Phổ Yên, phía tây giáp xã Thượng Lãm huyện Văn Lãng, phía nam giáp xã Tam Đảo huyện Tam Dương tỉnh Sơn Tây, phía bắc giáp xã Phục Linh huyện Phú Lương.
Đông tây cách nhau 80 dặm, nam bắc cách nhau 30 dặm” [3, tr. Trải qua những biến động về lịch sử hành chính, địa giới của huyện cũng có những thay đổi. Ngày nay, Đại Từ nằm ở phía tây bắc của tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên 25 km trong tọa độ 21030’ đến 21050’ vĩ 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 11 độ Bắc, 105032’ đến 105042’ kinh độ Đông. Phía bắc giáp huyện Định Hóa và Phú Lương, phía Đông giáp thành phố Thái Nguyên, phía nam giáp huyện Phổ Yên, phía tây là dãy núi Tam Đảo chạy dọc theo hướng tây bắc - đông nam, cũng là địa giới tự nhiên của huyện và tỉnh Thái Nguyên với 2 tỉnh Tuyên Quang và Vĩnh Phúc.
Với vị trí địa lý này, Đại Từ luôn giữ vai trò là vùng đất hiểm yếu của tỉnh Thái Nguyên. Là căn cứ quân sự có tính chất công thủ toàn diện trong các cuộc kháng chiến của dân tộc nhất là giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tiếp xúc, giao thoa văn hóa giữa đồng bằng và miền núi.2 Điều kiện tự nhiên Địa hình huyện Đại Từ nằm trong vùng thuộc chu kì tạo sơn Canêđôni, cách ngày nay khoảng 480 triệu năm và hình thành xong trong thời kì Đại Cổ sinh cách ngày nay khoảng 225 triệu năm. Trong lần vận động kiến tạo cách ngày nay khoảng từ 25 – 28 triệu năm đã làm cho khu vực Đại Từ được nâng cao thêm 200m đến 500m.
Sự tác động của quá trình vận động địa chất trên đã quy định đặc điểm của địa hình nơi đây là vùng trung du và miền núi, có độ dốc thoai thoải từ đông bắc xuống đông nam với độ cao trung bình là 300m. Nơi địa hình cao nhất ở phía tây bắc của huyện thuộc dãy Tam Đảo với độ cao trên 1400m rồi giảm nhanh xuống thung lũng sông Công và lòng hồ Núi Cốc. Song song với dãy Tam Đảo là những dãy núi thấp ở phía đông nam như núi Thằn Lằn, núi Pháo… Nhìn từ trên xuống, huyện Đại Từ giống như một thung lũng nhỏ được bao quanh bởi một vành đai núi xanh mướt, nằm nép mình bên dãy Tam Đảo sừng sững. Với địa thế này, Đại Từ có vai trò quan trọng trong lĩnh vực quân sự.
Tuy nhiên lại gây trở ngại rất lớn cho việc giao thông của huyện. 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 12 Vùng đất Đại Từ nhiều suối, ít sông. “Một dòng sông từ bến Tuân Độ, xã Cổ Lãm chảy xuống xã Yên Thái, thông sang huyện Phú Lương dài 108 dặm, rộng 6 trượng, sâu 7 thước rải rác có bãi đá ngầm, thuyền bè đi lại khó khăn” [3, tr. Con sông lớn nhất ở Đại Từ là sông Công, bắt nguồn từ vùng rừng núi Điềm Mạc (huyện Định Hóa) chảy theo hướng tây bắc – đông nam.
Đoạn sông Công chảy qua Đại Từ bắt đầu từ xã Minh Tiến qua các xã Phú Cường, Phú Thịnh, Bản Ngoại, Tiên Hội, thị trấn Đại Từ xuống các xã Hùng Sơn, Tân Thái rồi đổ vào hồ Núi Cốc. Mặc dù có duy nhất một con sông nhưng Đại Từ lại được ưu đãi từ dãy Tam Đảo và hệ thống các núi khác tạo ra 53 con suối lớn nhỏ đổ vào sông Công. Các suối này có chung đặc điểm là ngắn và chảy mạnh. Hệ thống thủy văn của Đại Từ không có giá trị lớn về vận tải đường thủy nhưng có một vai trò cực kì quan trọng trong việc cung cấp nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và cuộc sống sinh hoạt cho người dân trong huyện.
Từ thời Pháp thuộc, khi đặt chế độ cai trị ở Việt Nam, người Pháp đã nhận thấy giá trị kinh tế của hệ thống sông suối Đại Từ. Công sứ Thái Nguyên Ê-si-na đã nhận xét: “Đây là một huyện hứa hẹn đầy tương lai…, việc tưới nước cũng được thuận lợi nhờ có con sông chảy từ tây bắc xuống đông nam và rất nhiều dòng thác từ dãy Tam Đảo đổ xuống” [38, tr. Đại Từ còn có nhiều hồ đập nhân tạo, có thể kể đến như hồ Núi Cốc (Tân Thái), hồ Vai Miếu (Kí Phú). Trong đó lớn nhất là hồ Núi Cốc có diện tích 2500ha trong đó diện tích mặt nước là 769ha, có đập chính dài 48m và 6 đập phụ độ sâu trung bình là 23m, dung tích 175 triệu m3 đảm bảo cung cấp cho các khu công nghiệp thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công và cung cấp nước tưới cho 12.900 ha cây công nghiệp của các huyện Đại Từ, Phổ Yên, Phú Bình, thị xã Sông Công và thành phố Thái Nguyên.
Hồ Núi Cốc cũng là một 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 13 danh lam thắng cảnh nổi tiếng của tỉnh Thái Nguyên, hàng năm đón hàng chục vạn khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan và nghỉ mát. Khí hậu Đại Từ mang nét rất chung của vùng trung du miền núi phía Bắc. Sách Đại Nam nhất thống chí chép về khí hậu tỉnh Thái Nguyên trong đó có phản ánh những đặc điểm mang tính khác biệt nơi đây: “Hàng năm cuối mùa xuân mới hơi nóng, đến mùa hè nóng lắm, đầu mùa thu lạnh dần, đến mùa đông rét lắm. Vì địa thế có nhiều núi cao nên rét nhiều nóng ít… các huyện Tư Nông, Đồng Hỷ, Phú Bình, Bình Xuyên khí lam chướng nhẹ còn các huyện khác thì nặng mà huyện Đại Từ và Vũ Nhai lại nặng hơn cả” [24, tr.
“Dư địa chí của Nguyễn Trãi nói trong cả nước có 29 xứ nước độc, mà nước ở Đại Từ và Vũ Nhai thuộc Thái Nguyên là 2 xứ. Ngô (Thì) Sĩ nói: Vũ Nhai và Đại Từ nước rất độc, dầu người địa phương cũng không chịu nổi, phần nhiều mắc bệnh sốt rét” [24, tr. Và đặc điểm nổi bật của khí hậu huyện Đại Từ được ghi chép khá chi tiết trong sách Đồng Khánh dư địa chí: “Các tháng giêng, tháng hai thường có gió bắc lạnh rét, mưa dầm cả tuần đến tháng ba trời mới ấm. Tháng 5, tháng 6 mùa hạ nóng bức thường có gió đông nam thổi mạnh.
Mùa thu thường có mưa to, gió lớn, khí lạnh. Đến mùa đông càng rét đậm. Sương mù che phủ khắp trời đến giờ Tỵ mới tan” [3, tr. Ngày nay, chúng ta thấy rằng khí hậu của Đại Từ được hình thành do đặc điểm của khu vực tạo nên bởi các cánh cung lớn Tây Bắc và Việt Bắc gần như đồng quy về tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Đại Từ nói riêng, dạng địa hình này tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập khí lạnh từ phương Bắc vào sâu suốt lãnh thổ qua các huyện miền núi của tỉnh vào Đại Từ, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam thổi tới.
Đặc trưng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thể hiện qua các chỉ số: Nhiệt độ trung bình 22,90C, nhiệt độ cao nhất trung bình trong năm là 27,20C, nhiệt độ thấp nhất trung bình 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 14 trong năm là 200C; tổng nhiệt độ năm của huyện Đại Từ là 7. Đại Từ có lượng mưa cao bình quân từ 1.872mm/năm, hệ số ẩm ướt của Đại Từ cao phù hợp cho cây trồng phát triển đặc biệt là cây chè. Lượng mưa phân bố không đều theo không gian và thời gian, lượng mưa có chênh lệch lớn giữa mùa mưa và mùa khô. Về mùa mưa cường độ mưa lớn, chiếm tới gầm 80% tổng lượng mưa trong năm.
Độ ẩm không khí khá cao, trung bình theo tháng biến thiên từ 78 – 86%, trung bình năm 82%. Khí hậu có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, gió Đông Nam khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 gió Đông Bắc chiếm ưu thế lượng mưa ít thời tiết hanh khô. Những đặc điểm của khí hậu làm cho hoạt động kinh tế văn hóa của vùng vừa có nét chung lại vừa có nét riêng đặc thù.
Huyện Đại Từ có diện tích đất tự nhiên là 57.890ha (năm 2003), trong đó đất nông nghiệp chiếm 26,87% (15.557ha), đất lâm nghiệp 45,13% (26.123ha), còn lại là đất phi nông nghiệp chiếm 10,65% (6.165ha) trong tổng diện tích hiện có thì diện tích đất chưa sử dụng chiếm 17,35% (10.045ha) chủ yếu là đất đồi núi và sông suối. Đất đai ở Đại Từ khá phì nhiêu phần lớn là đất dốc tụ trên nền đá mẹ Gabrô nên việc canh tác dễ dàng. Đặc biệt ở đây có loại đất trên sườn đồi rất thích hợp cho việc phát triển các loại cây công nghiệp nhất là cây chè. Về khoáng sản, Đại Từ có 16/31 xã, thị trấn có mỏ quặng và điểm khoáng sản, bao gồm: Nhóm nguyên liệu cháy, chủ yếu là than ở một số xã của huyện như: Yên Lãng, Minh Tiến, An Khánh, Cát Nê với trữ lượng lớn ở 2 mỏ là Làng Cẩm và Núi Hồng khoảng 17 triệu tấn.
Nhóm khoáng sản, gồm nhiều loại khoáng sản quý như thiếc (Hà Thượng khoảng 13.000 tấn), vonfram (ở khu vực Đá Liền trữ lượng khoảng 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.