Chương 1: Khái quát về châu Hàm Yên. Chương 2: Sở hữu ruộng đất ở châu Hàm Yên nửa đầu thế kỉ XIX. Chương 3: Kinh tế nông nghiệp châu Hàm Yên nửa đầu thế kỷ XIX. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com BẢN ĐỒ TỈNH TUYÊN QUANG 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng KHÁI QUÁT VỀ CHÂU HÀM YÊN - TỈNH TUYÊN QUANG 1.
Vị trí địa lí v điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lí Địa giới của châu vào nửa đầu thế kỉ XIX đã được sách Đại Nam nhất thống chí chép lại như sau: Ở cách phủ 37 dặm về phía bắc, đông tây cách nhau 81 dặm, năm bắc cách nhau 62 dặm, phía đông đến địa giới châu chiêm hóa 52 dặm, phía tây đến địa giới huyện Sơn Dương tình Sơn Tây 29 dặm, phía năm đến địa giới huyện Hùng Quan tỉnh Sơn Tây 29 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Vị Xuyên 37 dặm. Xưa là huyện Sóc Sùng. Thuộc thời Minh là huyện Vân Yên, sau gồm vào huyện Khoáng.
Thời Lê Hồng Đức gọi là Sùng Yên, sau đổi là Phúc Yên, thổ tù họ Lương nối đời quản trị. Bản triều đầu đời Gia Long vẫn theo như thế. Năm Minh Mệnh thứ 3 đổi tên hiện nay. Năm thứ 16 đổi đặt lưu quan.
Nay lãnh 10 tổng, 73 xã thôn [51, Tr. Trong sách Đồng Khánh dư địa chí có ghi: “Huyện hạt phía đông giáp châu Chiêm Hóa, phía tây giáp huyện Hùng Quan tỉnh Sơn Tây, phía nam giáp huyện Sơn Dương, phía bắc giáp Huyện Vị xuyên [22, Tr. Trải qua những biến động về lịch sử hành chính, địa giới của châu cũng có những thay đổi. Hiện nay, huyện Hàm Yên có diện tích là Diện tích 907 km2.
Huyện lị là thị trấn Tân Yên nằm trên quốc lộ 2, cách thành phố Tuyên Quang khoảng 40 km về hướng tây bắc, huyện cũng là nơi con sông Lô chảy qua và 17 xã (Các xã: Tân Thành, Minh Hương, Bình Xa, Thành Long, Nhân Mục, Bằng Cốc, Đức Ninh,Thái Sơn, Thái Hòa, Hùng Đức, Yên Phú, Yên Lâm, Phù ưu, Minh Dân, Minh Khương, Bạch Xa, Yên Thuận). Nằm trong tọa độ địa lí từ khoảng: 21o51’ - 22o23’ vĩ độ Bắc và từ 104o51’ - 105o09’ độ kinh Đông. Huyện Hàm Yên có vị trí: Phía bắc giáp huyện Bắc Quang (Hà Giang), Phía Nam giáp Huyện Yên Sơn, phía đông giáp hai huyện Chiêm Hóa và Lâm Bình, Phía tây giáp huyện Yên Bình, Lục Yên (Yên Bái). Hàm Yên có vị trí địa lý luôn giữ vai trò là vùng đất hiểm yếu của tỉnh Tuyên Quang, tạo điều kiện thuận lợi thu hút cư dân tới đây sinh sống và lập nghiệp.
Đồng thời, đây là yếu tố thuận lợi cho sự tiếp xúc, giao thoa văn hóa giữa đồng bằng và miền núi. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Điều kiện tự nhiên Địa hình Hàm Yên khá phức tạp, bị chia cắt bởi các dãy núi cao và hệ thống sông ngòi, thấp dần theo hướng Tây bắc - Đông nam. Địa hình huyện phần lớn là đồi núi thấp, độ cao trung bình từ 500 - 600m so với mực nước biển chỉ có một vài xã vùng cao.
Hàm Yên có nguồn tài nguyên đất đai phong phú bao gồm: Hàm Yên nằm trong vùng đồi núi thấp, nằm giữa hai dã núi lớn, có đỉnh núi cao nhất là núi Cham Chu có độ cao là 1.587m chạy từ Yên Thuận tới Bình Xa theo hướng Tây bắc - Đông nam, nhiều đỉnh cao từ 831m đến 1435m. Địa hình có hướng dốc dần về phía Sông Lô, tạo cho Hàm Yên có hình thế như thung lũng lòng chảo lớn mà đáy là lưu vực sông Lô với những cánh đồng lớn và các bãi soi phù sa dọc hai bên bờ. Các ngọn núi thuộc địa phận Hàm Yên như: - Núi Sâm Sơn: Ở địa phận xã Tình Húc, một dãy núi liên tiếp, đột khởi ba ngọn, hình dáng lạ đẹp, cây cối xanh tốt, là dãy đá bảo vệ phái bên trái trành tỉnh, dòng sông ô như một dải áo vắt ngang phái trước, trên núi là ngôi đền thiêng, quả là ngọn danh sơn trong bản huyện, “cách huyện Hàm Yên về phía Nam, trông ra sông cái, 3 ngọn dựng đứng, trước có trường mỏ bạc, nay bỏ. Dưới núi có đền thờ Ngọc Hân công chúa, bên cạnh có hang và khe nước thông với sông Lô, tương truyền là hang Thuồng luồng” [51, Tr.
- Núi Nghiêm Sơn: Ở địa phận xã Nghiêm Sơn, núi đồi hùng vĩ, cây cối rậm rạp, trên núi có ngôi đền thiêng, “ở cách huyện Hàm yên 10 dặm về phía Nam, hình thế chót vót, đất đá lẫn lộn cây cối xanh tốt, trên núi có đền” [51, Tr. - Núi Chân Sơn: Ở địa phận xã Chân Sơn, thế núi nhấp nhô, quanh co chạy dài 1-2 dặm đến xã Chân Sơn thì cao vọt lên. Trên núi có đền thiêng. Núi rừng Hàm Yên quả thật đã mang lại nhiều nguồn lợi cho người dân.
Nhân dân có câu: “Chốn khuất khe lưu bày măng mọc - Tùng lâm hoang vắng sẵn sa nhân”. Thiên nhiên đã ban tặng nơi đây nguồn lâm, thổ sản phong phú. Trong Đồng Khánh dư địa chí có nhắc đến các loại gỗ sắc, tre vầu, nứa, củ nâu. có nguồn tài nguyên rừng rất phong phú, có tiềm năng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ, sản xuất bột giấy, sản xuất chế biến các sản phẩm từ nông lâm sản phụ và phát triển công nghiệp chế biến chè.
Nguồn tài nguyên rừng trong đó, có các loại cây 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lâm nghiệp trên diện tích đất rừng trồng, các loại song, mây, giang, tre, nứa. có điều kiện để phát triển ngành nghề thủ công, mỹ nghệ. Không chỉ vậy, rừng Hàm Yên còn là nơi sinh sống của nhiều loài muông thú như: ợn lòi, khỉ, cầy, hổ, gấu, hươu sao… Hàm Yên là huyện có nhiều sông, suối. Các con sông lớn: Sông Lô, sông Khâm và sông Gầm đã được lưu trong sử sách: Sông Lô: Ở cách huyện Vĩnh Tuy 49 dặm về phía tây bắc, phát nguyên từ đông phủ Khái Hoá nước Thanh, chảy vào địa hạt Tuyên Quang, qua địa phận các châu huyện Vĩnh Tuy, Vị Xuyện, Chiêm hóa, Hàm Yên, có nước sông Yên Long và sông Gầm hợp vào, rồi chảy qua phía dông tỉnh tỉnh thành, gồm 74 dặm, 173 thác, nước chảy như tên bắn, đường thủy rất là hiểm trở, hạ lưu hợp với sông chảy rồi đổ vào ngã ba sông Bạch Hạc tỉnh Sơn Tây.
Bản triều Minh Mệnh năm thứ 17, đức cửu đỉnh, khắc hình tượng vào Anh Đỉnh. Tự đức năm thứ 3, liệt vào hàng sông lớn, chép trong đền thờ [51, Tr. Sông ô đoạn chảy qua huyện Hàm yên trên giáp xã Bình Xa huyện Vị Xuyên, dưới giáp xã Hòa Mục Huyện Hùng Quan Phủ Đoan Hùng tỉnh Sơn Tây, dài 220 dặm. Sông Khâm: Trên giáp xã Xóm Xá châu Chiêm Hóa, dưới đến ngã ba cường Nỗ chảy vào sông Lô dài 105 dặm.
Sông Gầm: Ở cách huyện Để Định 38 dặm về phía Đông bắc, có tên nữa là sông Ngô, phát nguyên từ phủ Trấn Yên tỉnh Quảng Tây nước Thanh, chảy về phía nam, vào địa phận huyện để định, đến địa phận huyện Vĩnh Điện thì chảy ngoặt sang phía Tây, qua các núi Thượng Lãm và Hạ Lãm, lại chảy ngoặt sang phía Đông qua địa phận châu Chiêm Hóa. Sông này hàng năm về mùa Hạ và mùa Thu nước đục, về mùa Đông và mùa Xuân nước trong, lòng sông nhỏ hẹp lại nhiều đá ngầm, thuyền đi qua, người tất phải lên bờ đi bộ, theo ven núi ước một hai khắc canh rồi lại xuống thuyền. đến phố Vân Quang Châu Chiêm Hóa, lại có một nguồn nước từ núi Khâu Hoắc huyện Cảm Hóa tỉnh Thái Nguyên, hợp với chi lưu hồ ba bể thành sông Công Bật, chảy đến đây mà hợp vào sông Vân Quang, lại “chảy về phía đông nam qua ngã ba Cường Nỗ thuộc huyện Hàm Yên, rồi đổ vào sông Lô. Sông này, ở địa phận huyện 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để Định và Vĩnh Điện gọi là sông Ngô, ở địa phận châu Chiêm Hóa và Huyện Hàm Yên gọi là sông Gầm” [51, Tr.
Hiện nay, trên địa bàn huyện ngoài các con sông lớn, huyện có một hệ thống các con suối, ngòi dày đặc: Ngòi Nắc (xã Yên Lâm), ngòi Mục (thị trấn Tân Yên), ngòi Hẻ (xã Yên Phú), ngòi Khiêng, suối Thọ (xã Phù ưu), suối Khang (Xã Minh Dân), ngòi Hương ạp (xã Minh Hương) và hàng trăm khe suối nhỏ chằng chịt khắp các xã trong huyện. Đặc điểm chung của các con sông suối này là lượng chảy khá đều, mang đến một lượng phù sa cho huyện, phục vụ cho tưới tiêu sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, Hàm Yên có rất nhiều suối mạch ngầm nhỏ chảy từ các núi đá vôi, các khe núi đất, đảm bảo nước sinh hoạt quanh năm cho nhân dân. Tuy nhiên, do độ dốc lớn, khúc khuỷu nhiều thác ghềnh, lưu lượng dòng chảy thay đổi theo mùa, mùa mưa thì dòng chảy lớn, mùa cạn thì dòng chảy thấp.
Mùa mưa lũ, lưu lượng nước ở đây có cường độ rất mạnh, bất ngờ dẫn đến sạt lở đất, gây thiệt hại lớn đến nhà cửa, cây cối hoa màu, đe dọa tính mạng của nhân dân. Đặc biệt Hàm Yên là huyện thường xảy ra những trận lốc lớn. Chính vì vậy, công tác thủy lợi luôn được coi trọng. Khí hậu mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa Bắc Á Trung Hoa có 2 mùa rõ rệt: Mùa đông lạnh - khô hạn và mùa hè nóng ẩm mưa nhiều; mưa bão tập trung từ tháng 5 đến tháng 8 và thường gây ra lũ lụt, lũ quét.
Các hiện tượng như mưa đá, gió lốc thường xảy ra trong mùa mưa bão với lượng mưa trung bình hàng năm đạt từ 1. Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 220 - 490C. Cao nhất trung bình 330 - 350C, thấp nhất trung bình từ 120 - 130C; tháng lạnh nhất là tháng 11 và 12 (âm lịch), hay có sương muối. “Mùa hè mùa thu thường mưa nhiều, mùa đông và mùa xuân thường âm u, mỗi khi mưa lâu tiếp đến ngày nắng, thì khí nóng khác như thường đến tiết sương giáng thì có gió rét, tháng 3 và tháng 9 khí nóng nung nấu nhiều người bị cảm “Tháng 9 thì quýt đỏ trôn, tháng 3 ngái nở con cái tìm về”” [51, Tr.
Trong Đồng Khánh dư địa chí cũng có chép: “Tháng giêng tháng hai gió đông, thỉnh thoảng gió bắc, nhiều lạnh rét ít ấm nóng. Trời mây âm u cả tuần, sương mù dày đặc, buổi sáng phải đến giờ thìn mới thấy mặt trời, mới nửa chừng giờ thân trời đã tối. Đến hạ tuần tháng 3 mới cảm thấy ấm áp.