ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng và nguyên nhân Mục tiêu và chương trình giáo dục cấp THPT 2018 được xây dựng trên quan điểm cần giúp HS tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết đối với người lao động; hình thành năng lực định hướng nghề nghiệp cho HS, từ đó giúp HS lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực, tính cách, quan niệm sống, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của gia đình và phù hợp với nhu cầu của xã hội, thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới. Đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực trong đó có năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong đời sống cá nhân và xã hội là một vấn đề nghiên cứu cấp thiết trong lí luận dạy học các môn học, trong đó có môn sinh học, cũng như giáo dục hướng nghiệp có ý nghĩa quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện và phân luồng HS sau THPT. Một trong những PPDH mới mà hiện nay được các nước phát triển trên thế giới đã áp dụng đó là giáo dục theo định hướng STEM.
Đó là một phương thức giáo dục có bản chất là trang bị cho người học những kiến thức và kĩ năng cần thiết liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học; các kiến thức và kĩ năng đó được tích hợp, lồng ghép và bổ trợ cho nhau, giúp HS không chỉ hiểu về nguyên lí mà còn có thể thực hành, tạo ra được những sản phẩm sử dụng trong cuộc sống hàng ngày (Bộ GD-ĐT, 2020). Giáo dục STEM còn cung cấp cho HS những kĩ năng cần thiết trong thế kỉ XXI như: kĩ năng giải quyết vấn đề, tư duy phản biện, kĩ năng giao tiếp và hợp tác, qua đó góp phần phát triển năng lực HS, trong đó có năng lực dụng kiến thức sinh học vào thực tiễn, giúp HS có khả năng đáp ứng được sự phát triển xã hội ngày nay và bắt kịp xu hướng giáo dục của thế giới. Giáo dục STEM nhằm thu hẹp khoảng cách giữa lí thuyết và thực tiễn, tạo ra những con người có năng lực làm việc trong môi trường đòi hỏi tính sáng tạo cao. Khi nhắc đến vi khuẩn, vi nấm chúng ta thường nghĩ đến những vi sinh vật (VSV) gây hại, là do khả năng gây bệnh và lan truyền bệnh của chúng.
Tuy nhiên, nhiều VSV đóng một vai trò quan trọng trong sự sống còn của con người. Phần sinh học VSV lớp 10 bao gồm các nội dung kiến thức mang tính thực tiễn, có tính ứng dụng cao trong đời sống hàng ngày. Trong giảng dạy phần này, nếu GV chỉ chú trọng truyền thụ kiến thức và HS thụ động tiếp nhận kiến thức hàn lâm sẽ hình thành nên những con người mang tính thụ động, hạn chế khả năng vận dụng sáng tạo, làm giảm sự khám phá và niềm yêu thích thiên nhiên. Vì vậy, tổ chức dạy học chủ đề này theo định hướng giáo dục STEM bằng các bài tập thực nghiệm sẽ giúp GV tiếp cận chương trình và PPDH tích cực; đồng thời giúp HS khắc sâu được kiến thức, chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập, vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn, đồng nghĩa với việc phát triển năng lực bản thân để bước vào đời sống.
Qua đó sẽ phát triển năng lực vận dụng và định hướng nghề nghiệp cho các em HS. Tuy nhiên, ở các trường phổ thông hiện nay đa số HS ít mặn mà, thiết tha với môn Sinh học. Lý do chọn đề tài Dạy học các chủ đề môn sinh học, theo định hướng giáo dục STEM có rất nhiều PPDH tích cực. Trong đó, dạy học bằng các bài tập thực nghiệm và dạy học theo dự án là những phương pháp mà các hoạt động dạy học có thể tiến hành linh hoạt ngoài giờ lên lớp và vẫn đảm bảo các mục tiêu học tập, nên được lựa chọn để triển khai cho HS.
Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc đổi mới PPDH nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quả đào tạo, giúp HS hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực chung, rèn luyện kỹ năng sống, biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống hiện tại và tương lai. Đồng thời giúp HS hứng thú trong vấn đề nghiên cứu khoa hoc và định hướng nghề nghiệp. Chúng tôi đã chọn đề tài là: “Phát triển năng lực vận dụng kiến thức sinh học 10 vào thực tiễn, thông qua làm một số sản phẩm từ ứng dụng quá trình phân giải của VSV theo định hướng giáo dục STEM” 3. Mục đích nghiên cứu Xây dựng và áp dụng dạy học dự án bằng các bài tập thực nghiệm ở bài 22 và bài 23 sinh học 10- KNTT theo hướng tiếp cận STEM, góp phần phát triển năng lực vận dụng kiến thức sinh học vào thực tiễn cho HS.
Phần Sinh học VSV trong Sinh học 10 bao gồm những kiến thức mang tính thực tiễn, ứng dụng cao. tổ chức dạy học chủ đề này theo định hướng giáo dục STEM sẽ giúp GV tiếp cận chương trình và phương pháp tổ chức dạy học tích cực; đồng thời giúp HS khắc sâu được kiến thức, chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập, vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn, đồng nghĩa với việc phát triển năng lực bản thân để bước vào đời sống. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu: - Nghiên cứu và áp dụng PPDH theo hướng tiếp cận STEM trong chủ đề “ứng dụng VSV”.
Phạm vi nghiên cứu - Phân tích mục tiêu, nội dung dạy học bài 22 và 23 sinh học 10 - KNTT. - Xây dựng kế hoạch dạy học bài 22 và 23 sinh học 10 - KNTT theo hướng tiếp cận STEM, nhằm phát triển năng lực HS. - Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu, thực nghiệm sư phạm áp dụng cho HS khối 10 tại đơn vị công tác trong 2 năm học 2022 - 2023 và 2023 – 2024. Phương pháp nghiên cứu và nội dung nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu lý luận. - Nghiên cứu tài liệu về chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về đổi mới giáo dục và đổi mới PPDH của Bộ GD – ĐT. 2 - Nghiên cứu cơ sở lý luận của giáo dục STEM và BTTN; áp dụng trong quá trình giảng dạy môn Sinh học tại các trường THPT của huyện miền núi Nghệ An. - Nghiên cứu và phân tích cấu trúc nội dung chủ đề ứng dụng VSV và các tài liệu về sinh học liên quan làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch dạy học hiệu quả.
Phương pháp điều tra, khảo sát. - Điều tra về thực trạng dạy học STEM trong dạy học môn Sinh học. Bằng sử dụng phiếu điều tra, dự giờ, tham khảo giáo án, sổ điểm của GV. - Nghiên cứu điều kiện thực tiễn của nhà trường và địa phương; Điều tra về chất lượng HS ở các lớp để lựa chọn lớp thực nghiệm.
- Tìm hiểu hứng thú học tập của HS và việc đổi mới PPDH của GV, đối với việc dạy học một số nội dung môn Sinh học theo hướng tiếp cận giáo dục STEM, để phát triển năng lực vận dụng của HS tại trường THPT huyện miền núi Nghệ An. Phương pháp tham vấn chuyên gia: Tham khảo ý kiến các GV có nhiều kinh nghiệm về PPDH theo định hướng giáo dục STEM 5. Phương pháp thực nghiệm: Tổ chức giảng dạy thực nghiệm, so sánh, đối chiếu kết quả trước và sau quá trình thực nghiệm giữa các lớp nhằm kiểm tra tính đúng đắn và hiệu quả của đề tài. Phương pháp xử lý số liệu: Ứng dung CNTT để phân tích định lượng và định tính kết quả thu được trong quá trình thực nghiệm sư phạm bằng các phần mềm tin học và đối chiếu với mục tiêu nghiên cứu, rút ra kết luận.
Đóng góp của đề tài Phân tích được những tiềm năng của HS và GV trong dạy học STEM để phát triển năng lực vận dụng kiến thức sinh học. Nêu lên một số kinh nghiệm của bản thân trong phương pháp tổ chức dạy học bài học STEM nhằm nâng cao kiến thức bộ môn, góp phần vào việc đổi mới PPDH tại nhà trường, nâng cao được chất lượng dạy học. Trang bị cho người học những kiến thức và kĩ năng cần thiết liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học; các kiến thức và kĩ năng đó được tích hợp, lồng ghép và bổ trợ cho nhau, giúp HS không chỉ hiểu về nguyên lí mà còn có thể thực hành, tạo ra được những sản phẩm sử dụng trong cuộc sống hàng ngày. HS tự biết làm các sản phẩm từ sự phân giải của VSV như: Làm mắm tôm, sữa chua, muối chua rau củ quả, làm bánh mỳ, làm mẻ, làm giấm táo…; biết vận dụng vai trò của VSV để ủ rác thải hữu cơ thiên nhiên thành phân bón và chăm sóc cho cây trồng; Biết quy trình tạo khí gas từ rác thải hữu cơ nhà bếp… Dạy học thông qua các BTTN tạo sản phẩm cụ thể, cùng với lồng ghép giáo dục định hướng nghề nghiệp đã giúp bộ môn Sinh học trở nên hấp dẫn hơn, gần gũi và thiết thực hơn.
Từ đó dễ dàng tiếp thu và ghi nhớ lâu kiến thức tốt hơn. Đồng thời phát huy tính tích cực, sáng tạo và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình học tập của HS. 3 PHẦN II: NỘI DUNG 1. Năng lực, phẩm chất và năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn 1.
Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như động cơ, thái độ, hứng thú, niềm tin, ý chí,.Năng lực của cá nhân được hình thành qua hoạt động và được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Phẩm chất là những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử trong đạo đức, lối sống, ý thức pháp luật, niềm tin, tình cảm,. của con người. Năng lực cùng với phẩm chất tạo nên nhân cách con người.
Chương trình giáo dục định hướng phát triển phẩm chất năng lực còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra, ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế.