đặt vấn đề, nêu cách GQVĐ, đồng thời GV GQVĐ (qua thuyết trình, hoặc làm thí nghiệm). HS là người quan sát và tiếp nhận kết luận vấn đề do GV thực hiện. Đây là mức thấp nhất và thường áp dụng cho HS tiểu học. Để tăng mức độ tham gia của HS thì tổ chức cho HS cùng GV rút ra kết luận hoặc HS quan sát GV trình bày và rút ra kết luận dưới sự gợi ý của GV.
Mức 2: GV nêu vấn đề, gợi ý HS tìm cách GQVĐ và tổ chức cho HS tham gia GQVĐ, GV và HS cùng đánh giá kết quả và rút ra kết luận. Mức 3: GV gợi ý (cung cấp thông tin, tạo tình huống có vấn đề) để HS phát hiện vấn đề, hướng dẫn HS GQVĐ, HS tiến hành GQVĐ, GV và HS cùng ĐG kết quả và rút ra kết luận. Mức 4: HS tự phát hiện vấn đề cần nghiên cứu, nêu giả thuyết, lập kế hoạch và tự lực GQVĐ, tự ĐG và tự rút ra kết luận; GV nhận xét, ĐG và chỉnh lí. Với HS trường THPT thì GV nên chú trọng áp dụng mức 2, 3 và 4, tăng cường sử dụng mức 3, đặc biệt ở các hoạt động hoàn thiện kiến thức và các tiết luyện tập các chuyên đề môn học.
+ Ưu điểm và hạn chế của DHGQVĐ DHGQVĐ được ĐG có những ưu điểm và hạn chế chính như sau: - Ưu điểm: Tạo điều kiện cho HS phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo, phát triển NL nhận thức, NL GQVĐ, NLTHTGTN dưới góc độ hoá học; Góp phần phát triển các NL chung, NL cơ bản của người lao đông đảm bảo cho họ phát hiện sớm vấn đề và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn cuộc sống của thế giới hội nhập. Kết quả của DHGQVĐ đảm bảo cho HS có KT, KN vững chắc, sâu sắc và HS biết cách chủ động chiếm lĩnh tri thức, biết ĐG kết quả học tập của bản thân và người khác. Thông qua đó mà các NL chung, NL chuyên môn, NL đặc thù môn học được hình thành và phát triển. - Hạn chế: Để thực hiện hiệu quả PPDH này đòi hỏi GV phải đầu tư nhiều thời gian, HS cần có khả năng tự học, học tập chủ động, tự giác, tích cực.
Đồng thời một số trường hợp cần có thiết bị dạy học và các điều kiện cần thiết (sử dụng thí nghiệm, phương tiện trực quan…) thì mới đạt hiệu quả nhưng thực tế dạy học ở nhiều trường phổ thông chưa đáp ứng được các điều kiện này. Với những hạn chế đó mà nhiều GV chưa sử dụng thường xuyên PPDH này. Phương pháp dạy học hợp đồng Dạy học hợp đồng là một HĐHT trong đó mỗi học sinh sẽ được GV giao một hợp đồng gồm các nhiệm vụ học tập, các bài tập bắt buộc thực hiện hoặc tự học khác nhau trong một thời gian nhất định và học sinh tự chủ động phân chia thời gian hợp lý để thực hiện các nhiệm vụ học tập đó tùy theo khả năng hoàn thành của mình. HS chắc chắn hoàn thành công việc của mình như đã ký với giáo viên đảm bảo về thời gian và tuân theo những điều lệ trong bản hợp đồng đó.
* Đặc điểm của PPDH theo hợp đồng - Học sinh được chủ động trong hoạt động học tập, chủ động về phân chia thời gian cho công việc để đảm bảo hợp đồng được hoàn thành. - HS có thể tự mình giải quyết các vấn đề phát sinh cá nhân giúp tăng cường tính độc lập, tính tự học của HS hoặc kết hợp sự hỗ trợ của HS khác, của nhóm học tập từ đó tăng cường sự hợp tác trong học tập hay của GV trong quá trình học tập. - Giáo viên có thể dựa vào kết quả và quá trình học sinh làm việc để đánh giá từng học sinh, phân hóa được trình độ và nhịp độ làm việc của HS, từ đó có kế hoạch học tập phù hợp tiếp theo cho cả lớp. Bên cạnh đó khi thực hiện dạy học theo PPDH theo hợp đồng, đòi hỏi công tác chuẩn bị của GV công phu hơn, mất nhiều thời gian và công sức để đạt hiệu quả tốt nhất, GV cần lựa chọn nội dung học tập phù hợp, HS cần tự giác và cần thời gian để làm quen với PP học mới.
* Quy trình thực hiện PPDH theo hợp đồng: + Giai đoạn 1: Chuẩn bị Bước 1: Lựa chọn nội dung học tập và xác định thời gian học phù hợp với PPDH hợp đồng để đạt hiệu quả dạy và học cao nhất. - Áp dụng: với các bài ôn tập, luyện tập, bài mới có kiến thức đơn giản, độc lập hoặc các bài thực hành thí nghiệm. - Thời gian thực hiện hợp đồng có thể thực hiện trên lớp hoặc ở nhà tùy vào nội dung bài học lựa chọn. Bước 2: Thiết kế KHBH - Xác định mục tiêu, yêu cầu cần đạt của bài học - Xác định các PPDH, KTDH phù hợp - Thiết kế các bản hợp đồng phù hợp với nội dung học tập, phù hợp với đối tượng HS để giúp HS có thể thực hiện nhiệm vụ một cách tốt nhất theo khả năng của mình.
Các bài tập đa dạng; các nhiệm vụ rõ ràng, đa dạng, đáp ứng được mục tiêu, ví dụ như nhiệm vụ nào bắt buộc, nhiệm vụ nào tự chọn, nhiệm vụ nào mang tính giải trí để gây hứng thú cho HS, tránh căng thẳng, nhiệm vụ thực hiện cá nhân, nhiệm vụ hợp tác nhóm, nhiệm vụ nào được nhận sự hướng dẫn từ phía GV. 12 - Thiết kế các phiếu hỗ trợ (nếu có): Trong quá trình HS thực hiện nhiệm vụ, có những nhiệm vụ HS có quyền yêu cầu nhận được sự hỗ trợ do đó GV thiết kế các phiếu hỗ trợ với các mức độ khác nhau phù hợp với khả năng của HS. + Giai đoạn 2: Tổ chức dạy và học theo PPDH hợp đồng - Bước 1: GV phát hợp đồng cho HS và giới thiệu về nội dung bài học, các phương pháp học tập ghi trong hợp đồng, giải thích và thống nhất các nội dung trong bản hợp đồng, giải đáp thắc mắc (nếu có). - Bước 2: HS nghiên cứu các nội dung trong hợp đồng: thời gian, nhiệm vụ học tập, thứ tự thực hiện nhiệm vụ và kí hợp đồng với GV.
- Bước 3: GV tổ chức, hướng dẫn học sinh làm việc theo cá nhân, theo cặp đôi hoặc theo nhóm để thực hiện các nhiệm vụ trong hợp đồng, hỗ trợ HS khi được đề nghị hỗ trợ. - Bước 4: GV và HS tiến hành thanh lý hợp đồng và GV nghiệm thu các bản hợp đồng tại lớp sau đó đưa ra các nhận xét, đánh giá, kết luận và tổng kết nội dung học tập hoặc có thể thu lại hợp đồng và kiểm tra đánh giá tại nhà và thông báo kết quả, nhận xét, đánh giá, kết luận và tổng kết nội dung học tập vào tiết học sau. DHHĐ có ưu điểm là cho phép phân hóa nhịp độ và trình độ của HS; tăng cường tính độc lập của HS; tạo điều kiện cho HS được GV hướng dẫn cá nhân; tăng cường học tập hợp tác; các hoạt động học tập trở nên phong phú hơn, lựa chọn đa dạng hơn và tránh chờ đợi, tạo điều kiện cho HS được giao và thực hiện trách nhiệm. Bài tập hóa học 1.
Khái niệm bài tập hóa học Theo từ điển tiếng Việt phổ thông, “bài tập đuợc hiểu dựa trên mục đích sử dụng, bài tập là bài GV giao cho HS làm để HS vận dụng vào những điều HS đã được học, bài toán là vấn đề cần phải giải quyết bằng các phương pháp khoa học”. BTHH là một dạng BT thuộc bộ môn HH, bao gồm các câu hỏi, các bài toán HS cần giải quyết, chúng được tuyển chọn một cách khoa học với những nội dung phù hợp, cụ thể, rõ ràng và chính xác. HS cần phải nắm được ND kiến thức của môn HH bao gồm những khái niệm, học thuyết, các định luật, quan sát và nêu được các hiện tượng thí nghiệm, những phép toán cơ bản,…, bên cạnh đó, HS phải biết phân tích, suy luận logic mới có thể giải được các bài tập này. Ngoài ra, HS còn thu nhận được những kiến thức, kĩ năng qua việc giải các bài tập hóa học đó.
Bài tập định hướng phát triển năng lực là bài tập không yêu cầu HS phải ghi nhớ, vận dụng một cách máy móc các kiến thức đã học mà nó gắn với HĐ học của HS, qua đó giúp HS nắm vững kiến thức, hình thành kĩ năng, hứng thú học tập, giúp phát triển tư duy, khả năng nhận thức, các phẩm chất đạo đức mà HS cần có. Ngoài ra, BT định hướng phát triển năng lực còn được giáo viên sử dụng để làm công cụ đánh giá, kiểm tra NL của HS, kết quả đó là căn cứ để các cấp quản lí xác định được mức độ đã đạt được của HS so với mục tiêu mà giáo dục đã đề ra. Ý nghĩa của bài tập hóa học 13 - Ý nghĩa về trí dục: Giúp cho HS hiểu chính xác các khái niệm, củng cố, mở rộng kiến thức, vận dụng những kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề của bài tập, từ đó giúp HS ghi nhớ kiến thức tốt hơn. Bên cạnh đó, BTHH giúp HS không cảm thấy bị nhàm chán khi ôn tập, hệ thống lại các kiến thức lý thuyết đã học.
Rèn luyện cho HS kĩ năng sử dụng ngôn ngữ HH, viết PTHH, kĩ năng tính toán, kĩ năng thực hành thí nghiệm, khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để giải thích những hiện tượng xảy ra trong thực tiễn của cuộc sống, trong quá trình lao động sản xuất và ý thức bảo vệ môi trường. - Ý nghĩa giáo dục: rèn luyện tính kiên nhẫn, cẩn thận cho HS, lòng yêu thích môn HH, kỹ năng làm việc có kế hoạch, giữ gìn vệ sinh sạch sẽ nơi làm việc. - Ý nghĩa phát triển: rèn cho HS tư duy logic, biện chứng, độc lập, thông minh và sáng tạo. Phân loại bài tập hóa học Hiện nay, dựa vào các cơ sở khác nhau, có rất nhiều cách để phân loại bài tập khác nhau, ví dụ: Bài tập học và bài tập đánh giá; bài tập đóng, bài tập mở.
ở đây, chúng tôi dựa vào các cơ sở và phân loại BTHH như sau: Sử dụng BTHH nhằm phát triển NLVDKTKN cho HS phổ thông. 14 Hoạt động giải bài tập là một trong những hoạt động quan trọng nhằm phát triển NL cho HS trong quá trình dạy và học môn Hóa học.