SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 1 SÁNG KIẾN KHOA HỌC GIÁO DỤC ĐỀ TÀI PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC ĐỂ PHÒNG, CHỐNG CÁC BỆNH VỀ HỆ TIẾT NIỆU CHO HS THÔNG QUA DẠY HỌC BÀI “BÀI TIẾT VÀ CÂN BẰNG NỘI MÔI” - SINH HỌC 11, SÁCH KNTT Lĩnh vực : Sinh học Nhóm tác giả: Trần Thị Thanh Hương – Đậu Thị Thu Hà Đơn vị: Trường THPT Quỳnh Lưu 1. Điện thoại: 0985718512 – 0975213733 Năm học: 2023 - 2024 MỤC LỤC PHẦN I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI. TÍNH MỚI, ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI.
Tính mới của đề tài. Đóng góp mới của đề tài. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI.
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI. Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Khái niệm năng lực. Khái niệm năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Tiêu chí, biểu hiện hành vi của năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Vai trò của việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Một số phương pháp dạy học hình thành năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Sử dụng bài tập thực tiễn.
Sử dụng bài tập tình huống. Sử dụng phương pháp đóng vai. Sử dụng phương pháp dạy học dự án. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.
Phương pháp điều tra khảo sát để xác định cơ sở thực tiễn của đề tài. Kết quả điều tra, khảo sát cơ sở thực tiễn của đề tài. Đối với GV:. Đối với HS.
Kết luận chung. THỰC HIỆN ĐỀ TÀI. Xác định mục tiêu bài học. Về năng lực.
Năng lực Sinh học. Năng lực chung. Về phẩm chất. Xác định nội dung bài học liên quan đến giáo dục sức khỏe hệ tiết niệu.
Thiết kế các hoạt động dạy học và công cụ, tiêu chí đánh giá năng lực vận dụng kiến thức để phòng chống các bệnh đường tiết niệu cho HS. Thiết kế các hoạt động dạy học. Thiết kế các tiêu chí và công cụ đánh giá. Tổ chức dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức để phòng chống các bệnh đường tiết niệu.
Giao nhiệm vụ. Thảo luận về nhiệm vụ, thống nhất tiêu chí đánh giá. Thảo luận nhiệm vụ. Thảo luận, thống nhất tiêu chí đánh giá.
Thực hiện nhiệm vụ. Báo cáo, đánh giá các sản phẩm. Hoạt động 1: Tìm hiểu về khái niệm và vai trò bài tiết. Tìm hiểu về thận và chức năng tạo nước tiểu.
Hoạt động 3: Tìm hiểu về cân bằng nội môi và vai trò của thận trong cân bằng nội môi. Tìm hiểu về vận dụng kiến thức bài tiết, cân bằng nội môi để phòng, chống các bệnh về thận và đường tiết niệu. Kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức để phòng chống các bệnh về thận và tiết niệu của HS. KHẢO SÁT TÍNH CẤP THIẾT VÀ KHẢ THI CỦA ĐỀ TÀI.
Mục đích khảo sát. Nội dung và phương pháp khảo sát. Nội dung khảo sát. Phương pháp khảo sát và thang đánh giá.
Đối tượng khảo sát. Kết quả khảo sát về sự cấp thiết của và tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất. Kết quả của sự cấp thiết của các giải pháp đã được đề xuất. Kết quả của tính khả thi của các giải pháp đã được đề xuất.
Nhận xét chung về sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đã đề ra. 47 PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. Với giáo viên. 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI TT Cụm từ Được viết tắt bằng 1 Giáo dục và đào tạo GD &ĐT 2 Phương pháp dạy học PPDH 6 GV GV 7 HS HS 8 Trung học phổ thông THPT 9 Giáo dục phổ thông GDPT 10 Kết nối tri thức KNTT 11 Phiếu học tập PHT 12 Sáng kiến kinh nghiệm SKKN 13 Vận dụng kiến thức VDKT 14 Giải quyết vấn đề GQVĐ 15 Hoạt động HĐ PHẦN I.
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Hiện nay, toàn ngành giáo dục đang nỗ lực thực hiện công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả của giáo dục phổ thông. Mục tiêu đổi mới được Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội chỉ rõ: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi HS”. Sinh học là môn khoa học thực nghiệm có liên quan nhiều đến các kiến thức thực tiễn, nên giảng dạy sinh học rất thuận lợi cho việc giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ sức khỏe cho HS. Tuy nhiên, sách giáo khoa chương trình GDPT 2018 nhiều bài vẫn còn nặng về lí thuyết và phần vận dụng viết theo hướng mở nên để đảm bảo dạy đúng, kịp chương trình nhiều GV vẫn chủ yếu truyền thụ kiến thức trong nội dung bài học và ít cập nhật những kiến thức đã dạy vào cuộc sống.
Điều này chưa kích thích được hứng thú học tập của HS trong các giờ học, ngoài ra còn hạn chế khả năng vận dụng kiến thức của HS vào thực tiễn như chăm sóc, bảo vệ sức khỏe … Bài “Bài tiết và cân bằng nội môi” sinh học lớp 11, sách giáo khoa KNTT cũng nằm trong chuỗi bài có cấu trúc như trên. Bên cạnh các kiến thức hàn lâm như: khái niệm và vai trò của bài tiết; cấu tạo và chức năng tạo nước tiểu của thận; khái niệm nội môi, cân bằng nội môi và vai trò của thận, gan trong điều hoà cân bằng nội môi là phần vận dụng tìm hiểu về các biện pháp bảo vệ thận và tầm quan trọng của việc xét nghiệm định kì các chỉ số sinh hoá liên quan đến cân bằng nội môi. Vì thế khi dạy học rất cần vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực để kích thích hứng thú học tập, đồng thời nâng cao năng lực vận dụng kiến thức để phòng và chống một số bệnh liên quan đến hệ tiết niệu. Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), 10% dân số thế giới đang phải đối mặt với các bệnh lí về thận và mỗi năm, bệnh lý này cướp đi mạng sống của 5 - 10 triệu người trên toàn thế giới.
Đáng chú ý, những con số này được dự đoán sẽ ngày một tăng cao. Ước tính đến năm 2030, có đến 5,2 triệu người mắc bệnh thận và cần được chạy thận nhân tạo. Tại Việt Nam, hiện có khoảng 5 triệu người đang bị suy thận, khoảng 26.000 người bị suy thận mãn tính giai đoạn cuối phải chạy thận nhân tạo và 8.000 ca mắc mới mỗi năm. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh đường tiết niệu là do người dân nói chung và HS nói riêng chưa có các kiến thức phòng tránh bệnh đường tiết niệu.
Trên thực tế, ở trường THPT việc đưa vấn đề giáo dục sức khỏe cho HS vào chương trình môn học còn chưa được chú trọng nhiều, cơ sở vật chất nhà trường chưa đảm bảo, thư viện còn thiếu tài liệu và phương tiện phục vụ cho giảng dạy về giáo dục sức khỏe. Nhiều GV còn gặp khó khăn khi lựa chọn các phương pháp dạy 1 học phù hợp để thực hiện nội dung giáo dục sức khỏe. Chính vì điều đó dẫn đến hiểu biết của các em về vấn đề này còn hạn chế và chưa thực sự mang lại hiệu quả trong cuộc sống. Với mong muốn trang bị thật tốt cho các em HS những kiến thức về chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nói chung và sức khỏe hệ tiết niệu nói riêng, từ đó giúp các em có nhiều hứng thú hơn với môn Sinh học, chúng tôi lựa chọn đề tài: Phát triển năng lực vận dụng kiến thức để phòng, chống các bệnh về hệ tiết niệu cho HS thông qua dạy học bài “Bài tiết và cân bằng nội môi” - Sinh học 11, sách KNTT.
TÍNH MỚI, ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI 1. Tính mới của đề tài Năm học 2023 - 2024 là năm học đầu tiên cả nước thực hiện chương trình GDPT 2018 ở khối 11, đề tài của chúng tôi lần đầu tiên được thực hiện đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, hoàn thành mục tiêu dạy học chương trình mới. Đối với chương trình giáo dục phổ thông 2018, đã có một số đề tài nghiên cứu về việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực vào bài học nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Tuy nhiên chưa thấy có đề tài nào về nội dung mà chúng tôi nghiên cứu.
Đóng góp mới của đề tài Đề tài đưa ra các giải pháp mới hướng dẫn GV cách thức tổ chức dạy học bài “Bài tiết và cân bằng nội môi’’ bằng các phương pháp dạy học tích cực. Từ đó giúp HS hứng thú hơn trong các giờ học, đồng thời phát triển các năng lực chung và năng lực Sinh học cho HS. Đề tài chú trọng phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn một cách linh hoạt. Đặc biệt là giúp HS vận dụng kiến thức về bài tiết, cân bằng nội môi để phòng và chống các bệnh liên quan đến hệ tiết niệu.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU A. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn 1.
Khái niệm năng lực Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ GD&ĐT ban hành tháng 12 năm 2018 đã đưa ra khái niệm năng lực như sau: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. Khái niệm năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn - Theo Nguyễn Công Khanh và Đào Thị Oanh: “Năng lực vận dụng kiến 2 thức là khả năng của bản thân người học tự giải quyết những vấn đề đặt ra một cách nhanh chóng và hiệu quả bằng cách áp dụng kiến thức đã lĩnh hội vào những tình huống, những hoạt động thực tiễn để tìm hiểu thế giới xung quanh và có khả năng biến đổi nó.