đặt vấn đề, tự giải quyết vấn đề. Đó là những hoạt động có tác dụng rèn luyện, phát triển tƣ duy logic đồng thời cũng là một dấu hiệu biểu đạt mức độ của sự phát triển trí tuệ. NLTH trong môn Ngữ văn có thể hiểu là khả năng tự khám phá, tự nghiên cứu, tự chiếm lĩnh các kiến thức về tiếng Việt, văn học bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có. Dƣới sự hƣớng dẫn của GV, HS sẽ đƣợc rèn luyện và phát huy những kĩ năng quan trọng nhƣ tự đọc sách, tài liệu, tự phát hiện luận điểm, tự lập dàn ý, tự tìm dữ liệu cho một nhận định,.
Để phát triển NLTH trong 9 môn Ngữ văn cho HS cần thực hiện cả ở trƣớc khi lên lớp, trong khi lên lớp và sau khi lên lớp. - Trước khi lên lớp, HS phải chuẩn bị bài ở nhà bằng việc soạn bài theo câu hỏi hƣớng dẫn học bài trong sách giáo khoa hoặc theo hƣớng dẫn của giáo viên. Ở khâu này, HS phải tự mình phát hiện vấn đề, thu thập thông tin, phân tích, cắt nghĩa và đánh giá nội dung đƣợc học để đề ra cách giải quyết vấn đề. Sản phẩm của hoạt động tự học này là bài soạn đƣợc ghi lại trong vở soạn văn, phiếu học tập,.
- Trong giờ học, dƣới sự tổ chức, hƣớng dẫn của GV, HS chủ động tham gia vào các hoạt động đọc, đặt và trả lời câu hỏi, nghe và phát biểu thảo luận, làm bài tập, luyện viết và tham gia các hoạt động khác nhƣ vẽ tranh, làm thơ, kể chuyện, đóng vai… - Sau giờ học, HS làm bài tập, tìm hiểu, tra cứu thêm tài liệu, đọc sách kết nối theo chủ đề hoặc theo thể loại, hoặc theo kiểu văn bản, ghi chép vào “sổ tay văn học”, sinh hoạt nhóm, câu lạc bộ, ngoại khóa… 2. ơ sở thực tiễn về dạy học hùm thơ hai-cƣ (haiku) Nhật Bản theo hƣớng phát triển năng lực cho S 2. Khảo sát về thực tiễn dạy - học Chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản 2. Mục đích và phương pháp khảo sát - Mục đích khảo sát: Khảo sát để thấy rõ thực trạng dạy học thơ hai cƣ (haiku) Nhật Bản tại trƣờng THPT Bắc Yên Thành và một số đơn vị trƣờng bạn trong huyện.
Trên cơ sở đó, phân tích đặc điểm đối tƣợng học sinh để đƣa ra hình thức, phƣơng pháp dạy học phù hợp. - Phương pháp khảo sát: Khảo sát bằng phiếu trả lời câu hỏi dành cho 2 đối tƣợng gồm GV Ngữ văn và HS lớp 10 trong năm học 2022 - 2023, 2023-2024. PHIẾU KHẢO SÁT GIÁO VIÊN VỀ THỰC TR NG D Y HỌC T Ơ - Ƣ( KU) N ẬT BẢN Câu hỏi 1. Thầy/Cô có chú trọng phát triển năng lực tự học và năng lực thẩm mĩ cho HS trong dạy học Ngữ văn không? (Chọn 1 phương án trả lời) Rất chú trọng Chú trọng Ít chú trọng Không chú trọng Câu hỏi 2.
Thầy/Cô đánh giá như thế nào về sự cần thiết của việc phát triển năng lực tự học và năng lực thẩm mĩ cho HS qua việc dạy văn bản chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản?(Chọn 1 phương án trả lời) Không cần thiết Ít cần thiết Cần thiết Rất cần thiết 10 Câu hỏi 3. Thầy/Cô mong muốn đạt mục tiêu dạy học gì sau khi hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản Chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản? Phân tích, đánh giá đƣợc giá trị thẩm mĩ của một số yếu tố trong thơ nhƣ từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp, nhân vật trữ tình. Liên hệ để thấy đƣợc một số điểm gần gũi về nội dung giữa các tác phẩm thơ thuộc hai nền văn hoá khác nhau. Biết cách thuyết trình (giới thiệu và đánh giá) về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm thơ.
Có khả năng tự rung động, khám phá phát hiện, cảm thụ, nhận thức, đánh giá và sáng tạo đƣợc giá trị thẩm mĩ của văn chƣơng nói chung, của thơ hai-cƣ (haiku) Nhật Bản nói riêng. Mục tiêu khác. Theo Thầy/Cô, những nguyên nhân nào gây khó khăn cho việc phát triển năng lực tự học và năng lực thẩm mĩ cho HS trong môn Ngữ văn nói chung và khi dạy học thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản nói riêng? (có thể chọn nhiều câu trả lời) Tốn nhiều thời gian, công sức đầu tƣ thiết kế. HS lƣời tƣ duy, trình độ hạn chế.
Tâm lí đã quen với cách dạy học thƣờng ngày, không muốn thay đổi. Bản thân lúng túng trong các thao tác áp dụng các kĩ thuật/phƣơng pháp dạy học để phát triển năng lực tự học và thẩm mĩ cho HS. Nội dung bài học dài, cần dạy nhanh để kịp tiến độ chƣơng trình. Cơ sở vật chất thiếu thốn, không đáp ứng đƣợc các phƣơng pháp dạy học tích cực.
Khó khăn khác:. PHIẾU KHẢO SÁT HỌC SINH VỀ THỰC TR NG HỌC TẬP T Ơ - Ƣ( KU) N ẬT BẢN Câu hỏi 1: Quan điểm của bạn về tự học? Tự học rất quan trọng Không cần tự học đã có hƣớng dẫn của thầy/cô Câu hỏi 2: Trước khi học về thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản bạn đã được học/đọc những thể loại thơ nào của nước ngoài?. Câu hỏi 3: Bạn có hứng thú với việc học tập thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản không? Vì sao?. Câu hỏi 4: Chia sẻ những khó khăn của bạn khi học tập Chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản.
Câu 5: Bạn mong muốn điều gì sau khi học xong Chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản?. Quá trình khảo sát và kết quả khảo sát Để thực hiện đề tài nghiên cứu, chúng tôi tiến hành khảo sát GV và HS trong hai năm học 2022-2023, 2023-2024. Thời điểm khảo sát trƣớc khi học bài 2 Vẻ đẹp của thơ ca. Đối tƣợng khảo sát là HS lớp 10 trƣờng THPT Bắc Yên Thành và GV thuộc tổ bộ môn Ngữ văn của nhà trƣờng và một số GV cùng chuyên môn của trƣờng bạn.
Qua quá trình khảo sát chúng tôi thu đƣợc những kết quả nghiên cứu nhƣ sau: - Về phía GV: Chúng tôi khảo sát 27 GV môn Ngữ văn, kết quả có 27 thầy cô trả lời chú trọng/rất chú trọng việc phát triển NLTH và NLTM cho HS trong dạy học môn Ngữ văn. Cũng chừng ấy thầy cô đã thể hiện quan điểm cần thiết/rất cần thiết của việc phát triển NLTH và NLTM cho HS qua việc dạy học văn bản Chùm thơ hai-cƣ (haiku) Nhật Bản. Bên cạnh đó, các thầy cô đã chia sẻ những khó khăn khi thực hiện nội dung dạy học để phát triển năng lực cho HS: Tốn nhiều thời gian và công thức thiết kế ( 14/27 lựa chọn), HS lƣời tƣ duy và trình độ hạn chế (18/27 lựa chọn), Tâm lí đã quen với cách dạy thƣờng ngày không muốn thay đổi (10/27 lựa chọn), Bản thân lúng túng trong các thao tác áp dụng các kĩ thuật/phƣơng pháp dạy học để phát triển NLTH và NLTM cho HS (23/27 lựa chọn), Nội dung bài học dài, 12 cần dạy nhanh để kịp tiến độ chƣơng trình (20/27 lựa chọn), Cơ sở vật chất thiếu thốn, không đáp ứng đƣợc các phƣơng pháp dạy học tích cực (9/27 lựa chọn). - Về phía HS: Chúng tôi khảo sát tổng cộng 334 HS trong hai năm học thực hiện chƣơng trình GDPT 2018.
Kết quả: Có 219/334 HS khẳng định tự học rất quan trọng; đa số các em đều trả lời đã đƣợc học thơ Đƣờng - một thể thơ nƣớc ngoài trong chƣơng trình Ngữ văn. Với câu hỏi về sự hứng thú khi học Chùm thơ hai-cƣ (haiku) Nhật Bản, có 223/334 HS bày tỏ hứng thú vì đây là thể thơ ngắn, không mất thời gian đọc, trong khi các em còn nhiều môn học khác nữa. Các em cũng chia sẻ những khó khăn khi học tập thơ hai- cƣ (haiku) Nhật Bản: khó cảm nhận, phân tích, hiểu biết về thể thơ còn hạn chế. Cùng với điều đó, các em mong muốn sau khi học chùm thơ sẽ đƣợc hiểu thấu đáo hơn về thơ hai-cƣ (haiku), cảm nhận sâu sắc hơn những thông điệp mà thơ hai-cƣ (haiku) mang lại, có thể sáng tác thơ hai-cƣ (haiku).
Kết luận về thực tiễn dạy - học Chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản. Chùm thơ hai-cƣ (haiku) Nhật Bản đƣợc chọn làm ngữ liệu học tập đầu tiên cho bài 2 Vẻ đẹp của thơ ca (sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập 1- bộ Kết nối tri thức và cuộc sống). Nội dung dạy học trong thời lƣợng 2 tiết. Đây cũng là bài học đầu tiên về thể loại thơ trong chƣơng trình Ngữ văn THPT đối với HS.
Việc định hƣớng cho các em cách thức đọc hiểu để phát triển tốt NLTH và NLTM trong học tập môn văn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Sau khi phân tích kết quả khảo sát thực tiễn, tham vấn ý kiến của đồng nghiệp, chúng tôi nhận thấy: - Thuận lợi: Về phía GV: Đa số đều đề cao việc phát triển NLTH và NLTM của HS trong dạy học văn nói chung và dạy học văn bản thơ hai-cƣ (haiku) Nhật Bản nói riêng. Đây đƣợc xem là mục tiêu đúng đắn, phù hợp với yêu cầu của chƣơng trình GDPT 2018. Vì thế các thầy cô đƣợc khảo sát đều đánh giá cao sự cần thiết của việc phát triển đồng thời hai năng lực cơ bản này cho HS.
Về phía HS: Có gần 63 % HS bày tỏ quan điểm tự học rất quan trọng. Chứng tỏ các em ý thức cao vai trò của tự học, điều này sẽ là một thuận lợi không nhỏ khi GV giao nhiệm vụ học tập đòi hỏi tính tự chủ, tích cực cao ở các em. Bên cạnh đó có 67% HS thể hiện niềm hứng thú đối với thể thơ hai-cƣ cho thấy sự phù hợp ban đầu giữa văn bản chƣơng trình với nhu cầu của các em HS trong bối cảnh hiện đại. - Khó khăn: Về phía GV: Khó khăn lớn nhất (có đến 85% lƣợt lựa chọn) mà thầy cô chia sẻ khi thực hiện việc dạy học thơ hai-cƣ là bản thân lúng túng trong các thao tác khi áp dụng các kĩ thuật/phƣơng pháp dạy học để phát triển NLTH và NLTM cho HS.
Đây cũng chính là điều mà nhóm tác giả chúng tôi trăn trở. Ngoài ra các thầy cô giáo cũng chia sẻ thêm những khó khăn khi thực hiện các phƣơng pháp dạy học để phát triển 13 NLTH và NLTM cho HS qua văn bản thơ hai-cƣ nhƣ: tính hàm súc và đa nghĩa vốn có của thơ hai-cƣ, khả năng thấu suốt đặc trƣng văn hoá Nhật nhƣ một chìa khoá để giải mã văn bản thơ… là một thách thức không nhỏ đối với mỗi GV. Về phía HS: Những khó khăn của các em đều xuất phát từ vốn hiểu biết về văn hoá Nhật Bản và thể thơ hai-cƣ còn hạn chế do sự lệch pha giữa hai nền văn hoá và do thể thơ hai-cƣ các em cũng chƣa đƣợc học nhiều.