SKKN: Phát triển NL Tự học và Thẩm mĩ qua Haiku (Ngữ văn 10)

Tài liệu nghiên cứu Skkn cấp tỉnh phát triển năng lực tự học và năng lực thẩm mĩ cho học sinh qua dạy học đọc hiểu văn, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường THPT Bắc Yên Thành

Chuyên ngành

Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Sáng kiến kinh nghiệm

2024

63
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Lý do chọn đề tài

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Các phƣơng pháp nghiên cứu

Tính mới của đề tài

Cấu trúc của sáng kiến kinh nghiệm

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực trong môn Ngữ văn

1.1.1. Năng lực và dạy học phát triển năng lực

1.1.2. Dạy học phát triển năng lực trong môn Ngữ văn

1.2. Dạy học phát triển năng lực thẩm mĩ trong môn Ngữ văn

1.2.1. Năng lực thẩm mĩ

1.2.2. Biểu hiện của năng lực thẩm mĩ trong môn Ngữ văn

1.3. Dạy học phát triển năng lực tự học trong môn Ngữ văn

1.3.1. Năng lực tự học

1.3.2. Biểu hiện của năng lực tự học trong môn Ngữ văn

1.4. Cơ sở thực tiễn

1.4.1. Khảo sát về thực tiễn dạy - học Chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản

1.4.2. Mục đích và phương pháp khảo sát

1.4.3. Quá trình khảo sát và kết quả khảo sát

1.4.4. Kết luận về thực tiễn dạy - học Chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản

1.5. Sự cần thiết của việc tổ chức dạy học đọc hiểu Chùm thơ hai-cƣ (haiku) Nhật Bản nhằm phát triển năng tự học và năng lực thẩm mĩ cho ngƣời học

1.6. Nguyên tắc dạy học đọc hiểu Chùm thơ hai-cƣ (haiku) Nhật Bản nhằm phát triển năng tự học và năng lực thẩm mĩ cho ngƣời học

1.6.1. Đảm bảo mục tiêu của bài học

1.6.2. Đảm bảo tính khả thi

2. PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC VÀ NĂNG LỰC THẨM MĨ CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC ĐỌC HIỂU CHÙM THƠ HAI-CƢ (HAIKU) NHẬT BẢN”

2.1. Tổ chức hƣớng dẫn học sinh tự tìm tòi, khám phá, chuẩn bị bài ở nhà bằng “Cây hồ sơ học tập”

2.1.1. Hoạt động “Tự tìm tòi, khám phá, chuẩn bị bài ở nhà” và phương pháp “cây hồ sơ học tập”

2.1.2. Tổ chức thực hiện

2.1.3. Kết quả thực hiện

2.2. Tổ chức hƣớng dẫn học sinh tự tìm hiểu chung về giá trị thẩm mĩ của chùm thơ hai-cƣ (haiku) Nhật Bản bằng “Kĩ thuật phòng tranh”

2.2.1. Hoạt động “Tự tìm hiểu chung về giá trị thẩm mĩ” và “ Kĩ thuật phòng tranh”.2 Tổ chức thực hiện

2.2.2. Kết quả thực hiện

2.3. Tổ chức hƣớng dẫn học sinh tự phát triển kĩ năng đọc bằng phƣơng pháp “Đọc thẩm mĩ”

2.3.1. Hoạt động “Tự phát triển kĩ năng đọc” và phương pháp “Đọc thẩm mĩ”

3.2. Tổ chức thực hiện

2.3.3. Kết quả thực hiện

2.4. Tổ chức hƣớng dẫn học sinh tự phát huy năng lực cảm thụ thẩm mĩ qua hoạt động phát hiện - phân tích/cắt nghĩa các tín hiệu nghệ thuật thơ hai- cƣ (haiku) Nhật Bản bằng phƣơng pháp “Thảo luận nhóm”

2.4.1. Hoạt động “Tự phát hiện – phân tích/cắt nghĩa các tín hiệu nghệ thuật thơ” và phương pháp “Thảo luận nhóm”

2.4.2. Tổ chức thực hiện

2.4.3. Kết quả thực hiện

2.5. Tổ chức hƣớng dẫn học sinh tự rèn luyện năng lực khái quát - đánh giá giá trị thẩm mĩ của thế giới nghệ thuật thơ hai-cƣ (haiku) Nhật Bản bằng phƣơng pháp “Đàm thoại gợi mở” và kĩ thuật “Trình bày một phút”

2.5.1. Hoạt động “Tự rèn luyện năng lực khái quát – đánh giá giá trị thẩm mĩ của thế giới nghệ thuật thơ’ và phương pháp “Đàm thoại gợi mở”, “Trình bày một phút”

2.5.2. Tổ chức thực hiện

2.5.3. Kết quả thực hiện

2.6. Tổ chức hƣớng dẫn học sinh tự phát triển cảm xúc nhân văn – thẩm mĩ qua kết nối Chùm thơ hai-cƣ (haiku) Nhật Bản với đời sống thực tiễn bằng hình thức “Hoạt động Seminar”

2.6.1. Hoạt động “Tự phát triển cảm xúc nhân văn – thẩm mĩ qua kết nối thơ với thực tiễn” và phương pháp “Hoạt động Seminar”

2.6.2. Tổ chức thực hiện

2.6.3. Kết quả thực hiện

2.7. Tổ chức hƣớng dẫn học sinh tự sáng tạo cái đẹp – giá trị thẩm mĩ thơ hai- cƣ (haiku) thông qua các “Hoạt động trải nghiệm”

2.7.1. Hoạt động “Tự sáng tạo cái đẹp – giá trị thẩm mĩ thơ hai-cư.” và phương pháp “Hoạt động trải nghiệm”.2 Tổ chức thực hiện

2.7.2. Kết quả thực hiện

3. KHẢO SÁT SỰ CẤP THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA ĐỀ TÀI

3.1. Mục đích khảo sát

3.2. Nội dung và phƣơng pháp khảo sát

3.2.1. Nội dung khảo sát

3.2.2. Phương pháp khảo sát và thang đánh giá

3.2.3. Đối tƣợng khảo sát

3.3. Kết quả khảo sát về sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp

3.3.1. Sự cấp thiết của các giải pháp đề xuất

3.3.2. Tính khả thi của các giải pháp đề xuất

4. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI

4.1. Thực nghiệm đề tài

4.1.1. Đối tượng thực nghiệm

4.1.2. Mục đích thực nghiệm

4.1.3. Công cụ và kết quả đánh giá thực nghiệm

4.1.4. Nhận xét sau thực nghiệm

4.2. Bài học kinh nghiệm

4.2.1. Tính khoa học

4.2.2. Tính hiệu quả

4.3. Những kiến nghị đề xuất

THƢ MỤC THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Dạy Haiku lớp 10 Nền tảng phát triển NL Tự học Thẩm mĩ

Việc dạy thơ Haiku trong chương trình Ngữ văn lớp 10 không chỉ là giới thiệu một thể loại văn học Nhật Bản độc đáo mà còn là cơ hội vàng để thực hiện mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Chương trình này nhấn mạnh việc chuyển đổi từ dạy học tiếp cận nội dung sang định hướng phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh. Trong đó, năng lực tự chủ và tự học cùng năng lực cảm thụ thẩm mĩ là hai trong số những năng lực cốt lõi cần được bồi dưỡng. Thơ Haiku, với đặc trưng cô đọng, giàu sức gợi và triết lý sâu sắc, chính là mảnh đất màu mỡ để gieo trồng và phát triển hai năng lực quan trọng này. Một giáo án dạy học được thiết kế bài bản sẽ giúp học sinh không chỉ hiểu về luật thơ 5-7-5 hay quý ngữ (kigo), mà còn biết cách tự mình khám phá, rung động trước vẻ đẹp thiên nhiên và những triết lý nhân sinh ẩn sau từng câu chữ. Thay vì truyền thụ kiến thức một chiều, giáo viên đóng vai trò người tổ chức, định hướng để học sinh tự kiến tạo tri thức, từ đó hình thành thói quen học tập chủ động suốt đời. Sáng kiến kinh nghiệm này đề xuất các giải pháp sư phạm cụ thể, sử dụng các kỹ thuật dạy học tích cực để biến giờ học Haiku trở thành một quá trình trải nghiệm, khám phá và sáng tạo, đáp ứng đúng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Việc tập trung vào hai năng lực này không chỉ giúp học sinh học tốt môn Ngữ văn mà còn trang bị cho các em những kỹ năng cần thiết để hoàn thiện nhân cách và thành công trong tương lai, đúng như tinh thần “học để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình”.

1.1. Cơ sở lý luận Dạy học phát triển năng lực Ngữ văn

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là mô hình giáo dục tiên tiến, trong đó mục tiêu không chỉ dừng lại ở kiến thức mà là khả năng vận dụng tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Trong môn Ngữ văn, điều này có nghĩa là học sinh phải có khả năng tự chiếm lĩnh tác phẩm, cảm thụ, phân tích và sáng tạo. Theo tài liệu tập huấn của Bộ GD&ĐT, năng lực được định nghĩa là “sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng, thái độ... nhằm đáp ứng có hiệu quả một yêu cầu phức tạp của hoạt động trong bối cảnh nhất định”. Do đó, việc dạy thơ Haiku phải vượt ra ngoài việc ghi nhớ thông tin về tác giả Matsuo Basho hay đặc điểm thể loại. Thay vào đó, giáo viên cần tổ chức các hoạt động để học sinh tự mình phát hiện ra ý tại ngôn ngoại, cảm nhận được tinh thần thiền trong thơ Haiku và triết lý wabi-sabi độc đáo.

1.2. Năng lực Thẩm mĩ Cảm thụ vẻ đẹp thơ Haiku Nhật Bản

Năng lực thẩm mĩ, theo định nghĩa của Chương trình giáo dục phổ thông 2018, bao gồm các hoạt động nhận thức, phân tích, đánh giá và sáng tạo các yếu tố thẩm mĩ. Đối với văn học Nhật Bản nói chung và Haiku nói riêng, cảm thụ thẩm mĩ là quá trình người đọc rung động trước cái đẹp, cái bi, cái hài... được thể hiện qua ngôn từ. Trong môn Ngữ văn, năng lực này biểu hiện qua ba cấp độ: khám phá cái đẹp (phát hiện hình ảnh, ngôn từ đặc sắc), thưởng thức cái đẹp (cảm thụ, đánh giá), và tái hiện-sáng tạo cái đẹp (viết, vẽ, trình bày cảm nhận). Dạy thơ Haiku là cơ hội tuyệt vời để rèn luyện năng lực này, giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp tinh tế của một cành khô, sự sống mãnh liệt của một bông hoa triêu nhan, hay sự kiên trì của một chú ốc nhỏ. Qua đó, học sinh học cách trân trọng vẻ đẹp thiên nhiên và cuộc sống.

1.3. Năng lực Tự học Chìa khóa chiếm lĩnh tri thức văn học

Năng lực tự học là khả năng xác định nhiệm vụ, đặt mục tiêu, lập kế hoạch, tìm kiếm tài liệu và tự đánh giá quá trình học tập của bản thân. Theo Nguyễn Cảnh Toàn, đây là một “thuộc tính kỹ năng rất phức hợp”. Trong giờ học Ngữ văn, năng lực tự chủ và tự học được thể hiện qua việc học sinh chuẩn bị bài ở nhà, chủ động tham gia thảo luận trên lớp, và tự nghiên cứu mở rộng sau giờ học. Với thơ Haiku, một thể loại có tính hàm súc và chiều sâu văn hóa lớn, việc phát triển năng lực này càng trở nên cấp thiết. Học sinh không thể chỉ chờ đợi kiến thức từ giáo viên mà phải tự tìm hiểu về văn hóa, con người Nhật Bản, về các khái niệm như kireji (từ ngắt), quý ngữ (kigo) để có thể giải mã được tác phẩm. Các phương pháp như sử dụng phiếu học tập hay dạy học dự án là công cụ hữu hiệu để thúc đẩy quá trình này.

II. Thách thức dạy học Haiku Vượt qua lối mòn truyền thống

Mặc dù tiềm năng của việc dạy thơ Haiku trong việc phát triển năng lực là rất lớn, thực tiễn giảng dạy vẫn đối mặt với không ít thách thức. Khảo sát thực tế tại trường THPT Bắc Yên Thành và các đơn vị lân cận cho thấy một bức tranh chung: giáo viên còn lúng túng khi áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, trong khi học sinh gặp rào cản trong việc cảm thụ thẩm mĩ một thể loại thơ xa lạ. Nhiều giáo viên thừa nhận rằng việc thiết kế một giáo án dạy học theo định hướng phát triển năng lực tốn nhiều thời gian và công sức hơn so với phương pháp truyền thống. Họ cũng chỉ ra khó khăn khi 85% cảm thấy “lúng túng trong các thao tác khi áp dụng các kĩ thuật/phương pháp dạy học”. Về phía học sinh, dù 67% bày tỏ sự hứng thú với sự ngắn gọn của Haiku, các em vẫn gặp khó khăn trong việc phân tích, cắt nghĩa do “hiểu biết về thể thơ còn hạn chế” và sự khác biệt văn hóa. Những bài thơ kiệm lời, không chú trọng vần điệu, và đầy những “khoảng trắng” mời gọi sự đồng sáng tạo của người đọc lại trở thành thách thức với những học sinh đã quen với lối thơ trữ tình trực tiếp. Chính những khó khăn này cho thấy sự cần thiết phải có một hệ thống giải pháp đồng bộ và khả thi để nâng cao hiệu quả dạy và học Chùm thơ Haiku lớp 10, biến thách thức thành cơ hội để đổi mới phương pháp giáo dục.

2.1. Thực trạng từ giáo viên Lúng túng trong phương pháp

Kết quả khảo sát 27 giáo viên Ngữ văn cho thấy 100% đều nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển năng lực tự họcnăng lực thẩm mĩ. Tuy nhiên, nhận thức và thực hành lại có một khoảng cách đáng kể. Khó khăn lớn nhất được chỉ ra là sự lúng túng trong việc vận dụng các kỹ thuật dạy học tích cực (23/27 lựa chọn). Nhiều giáo viên vẫn quen với việc giảng giải, phân tích thay vì tổ chức hoạt động cho học sinh tự khám phá. Áp lực về thời lượng chương trình (20/27 lựa chọn) và tâm lý ngại thay đổi cũng là những rào cản không nhỏ. Việc dạy một thể loại đậm đặc văn hóa như thơ Haiku đòi hỏi giáo viên phải có sự đầu tư nghiên cứu sâu, nhưng không phải ai cũng có đủ điều kiện và thời gian để làm điều đó một cách triệt để. Điều này dẫn đến tình trạng giờ học có thể chỉ dừng lại ở bề mặt kiến thức, chưa khơi dậy được chiều sâu cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh.

2.2. Khó khăn từ học sinh Rào cản cảm thụ văn hóa khác

Đối với học sinh, thách thức lớn nhất đến từ sự khác biệt về văn hóa và đặc trưng thể loại. Khảo sát 334 học sinh cho thấy các em gặp khó khăn vì thơ “khó cảm nhận, phân tích”. Thơ Haiku với luật thơ 5-7-5 nghiêm ngặt, sử dụng quý ngữ (kigo) để gợi mùa và chứa đựng tinh thần wabi-sabi (vẻ đẹp của sự không hoàn hảo, vô thường) là những khái niệm hoàn toàn mới mẻ. Sự kiệm lời, “ý tại ngôn ngoại” của Haiku đòi hỏi người đọc phải có sự tĩnh tâm và trí tưởng tượng phong phú để lấp đầy những khoảng trống. Học sinh, vốn quen thuộc với các thể thơ truyền thống Việt Nam với cảm xúc bộc lộ rõ ràng hơn, dễ cảm thấy bối rối trước một bài Haiku chỉ mô tả một hình ảnh đơn sơ như “con ếch nhảy vào ao cũ”. Việc thiếu nền tảng về văn hóa và triết học phương Đông khiến các em khó kết nối và rung động sâu sắc với tác phẩm, từ đó ảnh hưởng đến việc phát triển năng lực thẩm mĩ.

III. Phương pháp tiếp cận Xây nền tảng tự học cảm thụ Haiku

Để vượt qua các thách thức, sáng kiến kinh nghiệm đề xuất một lộ trình tiếp cận bài bản, bắt đầu từ việc xây dựng nền tảng vững chắc cho năng lực tự họccảm thụ thẩm mĩ ban đầu của học sinh. Quá trình này không diễn ra đột ngột trên lớp mà được chuẩn bị kỹ lưỡng từ trước, thông qua các hoạt động được thiết kế khoa học. Thay vì để học sinh đến lớp với một trang giấy trắng, giáo viên chủ động giao nhiệm vụ, cung cấp công cụ để các em tự tìm tòi, khám phá. Phương pháp “Cây hồ sơ học tập” được áp dụng để hệ thống hóa quá trình chuẩn bị bài ở nhà, biến việc soạn bài thành một dự án nghiên cứu nhỏ. Tiếp đó, kỹ thuật “Phòng tranh” được sử dụng để trực quan hóa những kiến thức nền tảng, tạo ra một không khí học tập sinh động và hứng khởi. Cuối cùng, phương pháp “Đọc thẩm mĩ” giúp học sinh tiếp xúc trực tiếp với văn bản một cách sâu sắc, khơi gợi những rung động và cảm xúc ban đầu. Ba bước tiếp cận này tạo thành một chuỗi hoạt động logic, trang bị cho học sinh cả kiến thức nền, kỹ năng tự học và tâm thế sẵn sàng để đi sâu vào phân tích tác phẩm thơ trong các hoạt động tiếp theo. Đây là bước đệm quan trọng, đảm bảo mọi học sinh đều có thể tham gia vào giờ học một cách chủ động và hiệu quả.

3.1. Kỹ thuật Cây hồ sơ học tập Tự khám phá tại nhà

“Cây hồ sơ học tập” là phương pháp tổ chức cho học sinh tự tìm tòi và hệ thống hóa kiến thức trước khi đến lớp. Giáo viên giao nhiệm vụ cụ thể: tìm hiểu về đất nước, văn hóa Nhật Bản; đặc điểm thơ Haiku (luật thơ 5-7-5, kigo, kireji); và thông tin về các tác giả tiêu biểu như Matsuo Basho. Học sinh, theo nhóm hoặc cá nhân, thực hiện nghiên cứu và trình bày kết quả dưới dạng sơ đồ tư duy, báo cáo ngắn, hoặc phiếu học tập. Sản phẩm này được tập hợp thành một “hồ sơ học tập”, minh chứng cho quá trình nỗ lực và tiến bộ của các em. Phương pháp này không chỉ cung cấp kiến thức nền mà quan trọng hơn, nó rèn luyện kỹ năng tìm kiếm, tổng hợp và trình bày thông tin, đặt những viên gạch đầu tiên cho việc hình thành năng lực tự chủ và tự học.

3.2. Kỹ thuật Phòng tranh Trực quan hóa giá trị thẩm mĩ

Kỹ thuật “Phòng tranh” là một kỹ thuật dạy học tích cực nhằm biến các sản phẩm học tập của học sinh thành một buổi triển lãm. Các sơ đồ, tranh vẽ, bảng biểu do học sinh chuẩn bị trong “Cây hồ sơ học tập” được trưng bày trong lớp. Học sinh sẽ di chuyển, quan sát, lắng nghe nhóm khác thuyết trình và đặt câu hỏi. Hoạt động này biến không gian lớp học trở nên sinh động, khuyến khích sự tương tác và học hỏi lẫn nhau. Việc trực quan hóa kiến thức về văn học Nhật Bản và đặc trưng thơ giúp các em dễ dàng ghi nhớ và nắm bắt các khái niệm trừu tượng. Đây là cách hiệu quả để tạo hứng thú và giúp học sinh có cái nhìn tổng quan về vẻ đẹp và giá trị của thơ Haiku trước khi đi vào phân tích chi tiết, từ đó kích thích năng lực cảm thụ thẩm mĩ.

3.3. Phương pháp Đọc thẩm mĩ Khơi gợi rung động ban đầu

Theo L. Rosenblatt, “Đọc thẩm mĩ” là quá trình người đọc tập trung vào cảm xúc, thái độ và ý tưởng của cá nhân khi tương tác với văn bản. Thay vì đọc để tìm kiếm thông tin, học sinh được hướng dẫn đọc chậm, đọc diễn cảm để cảm nhận nhịp điệu, hình ảnh và không khí của bài thơ. Giáo viên yêu cầu học sinh ghi lại những cảm nhận ban đầu vào phiếu học tập: hình ảnh nào gây ấn tượng, cảm xúc chung của bài thơ là gì (buồn, tĩnh lặng, an nhiên...). Hoạt động này giúp học sinh kết nối cá nhân với tác phẩm, thừa nhận và trân trọng những rung động đầu tiên. Đây là bước quan trọng để đánh giá năng lực học sinh trong việc cảm thụ, giúp các em nhận ra rằng việc hiểu một bài thơ không chỉ dựa vào lý trí mà còn cần đến sự tham gia của trái tim, một yếu tố cốt lõi của cảm thụ thẩm mĩ.

IV. Bí quyết dạy Haiku Kỹ thuật phân tích đánh giá chuyên sâu

Sau khi đã có nền tảng vững chắc, giai đoạn tiếp theo tập trung vào việc phát triển năng lực phân tích và đánh giá chuyên sâu. Đây là lúc học sinh đi từ “cảm” đến “hiểu”, từ những rung động ban đầu đến việc lý giải được vì sao tác phẩm lại tạo ra những cảm xúc đó. Để làm được điều này, sáng kiến kinh nghiệm áp dụng hai phương pháp chính là “Thảo luận nhóm” và “Đàm thoại gợi mở” kết hợp kỹ thuật “Trình bày một phút”. Thảo luận nhóm tạo môi trường hợp tác để học sinh cùng nhau giải mã các tín hiệu nghệ thuật, phát hiện mối tương quan giữa các hình ảnh và nhận ra những triết lý nhân sinh sâu sắc. Phương pháp này giúp huy động trí tuệ tập thể và phát triển kỹ năng giao tiếp. Tiếp đó, phương pháp “Đàm thoại gợi mở” do giáo viên dẫn dắt sẽ giúp học sinh hệ thống hóa, đào sâu và khái quát hóa những phát hiện của mình. Bằng một hệ thống câu hỏi thông minh, giáo viên hướng học sinh đến việc đánh giá năng lực học sinh trong việc nhận ra các đặc trưng của thơ Haiku như tính tượng trưng, cấu tứ tương phản/tương đồng và cách biểu đạt cảm xúc gián tiếp. Kỹ thuật “Trình bày một phút” là cơ hội để mỗi cá nhân tổng kết và khẳng định quan điểm của mình. Sự kết hợp các kỹ thuật này đảm bảo một quá trình phân tích tác phẩm thơ toàn diện, hiệu quả.

4.1. Thảo luận nhóm Giải mã tín hiệu nghệ thuật thơ Haiku

Hoạt động thảo luận nhóm được tổ chức để giải quyết các nhiệm vụ học tập phức tạp. Học sinh được chia thành các nhóm, mỗi nhóm nhận nhiệm vụ phân tích tác phẩm thơ cụ thể. Ví dụ, nhóm 1 phân tích sự tương phản giữa “cành khô” và “con quạ” trong thơ Matsuo Basho; nhóm 2 phân tích sự giao hòa giữa “hoa triêu nhan” và “dây gàu”. Trong quá trình thảo luận, học sinh phải huy động kiến thức đã chuẩn bị, cùng nhau tranh luận để tìm ra ý nghĩa của từng hình ảnh, mối quan hệ giữa chúng và cảm xúc của nhân vật trữ tình. Phương pháp này giúp các em nhận ra vẻ đẹp trong sự tương phản giữa cái nhỏ bé và cái vĩ đại, cái nhất thời và cái vĩnh cửu – những đặc trưng làm nên chiều sâu của thơ Haiku. Qua đó, năng lực cảm thụ thẩm mĩ được nâng lên một tầm cao mới, từ cảm nhận sang phân tích, lý giải.

4.2. Đàm thoại gợi mở Rèn luyện năng lực khái quát đánh giá

Sau khi các nhóm trình bày, giáo viên sử dụng phương pháp đàm thoại gợi mở để dẫn dắt cả lớp đi đến những kết luận chung. Thay vì đưa ra câu trả lời cuối cùng, giáo viên đặt các câu hỏi khái quát: “Qua ba bài thơ, em nhận thấy hình ảnh thiên nhiên trong thơ Haiku có đặc điểm chung gì?”, “Tại sao các nhà thơ Haiku thường không bộc lộ cảm xúc trực tiếp?”. Hệ thống câu hỏi này buộc học sinh phải tư duy ở mức độ cao hơn, so sánh, tổng hợp thông tin từ các bài thơ để rút ra đặc trưng thể loại. Đây là quá trình rèn luyện năng lực tư duy phản biện và khả năng khái quát hóa, giúp học sinh tự mình đánh giá năng lực học sinh và làm chủ kiến thức. Cuối hoạt động, học sinh có thể tự tin trình bày trong một phút về điều mình tâm đắc nhất, thể hiện sự chiếm lĩnh tri thức một cách sâu sắc.

V. Hướng dẫn vận dụng Từ cảm thụ đến sáng tạo thơ Haiku

Mục tiêu cuối cùng của giáo dục không chỉ là hiểu biết mà còn là vận dụng và sáng tạo. Giai đoạn này tập trung vào việc giúp học sinh kết nối kiến thức đã học với đời sống và tự mình tạo ra các sản phẩm thẩm mĩ. Hoạt động “Seminar” được tổ chức để học sinh thảo luận sâu về những thông điệp, triết lý nhân sinh mà thơ Haiku gợi ra, liên hệ với các vấn đề của cuộc sống hiện đại như bảo vệ môi trường hay giá trị của sự kiên trì. Đây là cách để biến bài học văn chương thành bài học làm người. Tiếp nối seminar, hoạt động trải nghiệm mở ra không gian cho sự sáng tạo không giới hạn. Học sinh được khuyến khích sáng tác thơ Haiku, vẽ tranh minh họa, hoặc thậm chí dịch thơ sang các ngôn ngữ khác. Quá trình này giúp các em chuyển hóa từ người tiếp nhận cái đẹp thành người tạo ra cái đẹp, là biểu hiện cao nhất của năng lực thẩm mĩ. Các kết quả thực nghiệm từ sáng kiến cho thấy, khi được trao cơ hội và hướng dẫn đúng cách, học sinh có thể tạo ra những sản phẩm đáng kinh ngạc, minh chứng cho hiệu quả của phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm. Việc áp dụng các giải pháp này đã cho thấy sự tiến bộ rõ rệt trong cả năng lực tự học và khả năng cảm thụ thẩm mĩ của học sinh.

5.1. Hoạt động Seminar Kết nối thơ Haiku với đời sống thực

Seminar là hình thức thảo luận học thuật ở trình độ cao, yêu cầu học sinh chuẩn bị và trình bày quan điểm về một chủ đề cụ thể. Giáo viên đưa ra các vấn đề gợi mở: “Từ cách ứng xử với hoa triêu nhan của Chiyo, hãy bình luận về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên ngày nay”, hoặc “Hành trình của con ốc trong thơ Issa gợi cho bạn suy ngẫm gì về con đường thành công?”. Học sinh chuẩn bị bài trình bày, tranh luận và phản biện. Hoạt động này giúp phát triển tư duy phản biện, kỹ năng nói trước công chúng và quan trọng hơn, giúp các em thấy được triết lý nhân sinh của thơ Haiku không hề xa vời mà vẫn còn nguyên giá trị trong đời sống thực tiễn. Đây là cách hiệu quả để đánh giá năng lực học sinh trong việc vận dụng kiến thức văn học vào cuộc sống.

5.2. Hoạt động trải nghiệm Khuyến khích sáng tạo giá trị

Hoạt động trải nghiệm là bước cuối cùng, nơi học sinh được tự do thể hiện sự sáng tạo dựa trên những gì đã học. Sau khi đã hiểu sâu sắc về đặc trưng của thơ Haiku, các em được khuyến khích thử sức sáng tác thơ Haiku của riêng mình, tuân thủ luật thơ 5-7-5 và sử dụng quý ngữ (kigo). Bên cạnh đó, các em có thể vẽ tranh minh họa cho những bài Haiku yêu thích, thể hiện sự cảm thụ thẩm mĩ qua lăng kính hội họa. Một số học sinh có năng khiếu ngoại ngữ còn thử dịch thơ sang tiếng Anh, tiếng Hàn. Những sản phẩm này không chỉ là bài tập mà còn là những tác phẩm nghệ thuật, thể hiện dấu ấn cá nhân và sự trưởng thành trong nhận thức thẩm mĩ của học sinh. Đây là minh chứng rõ ràng nhất cho sự thành công của một quá trình dạy học hướng tới phát triển toàn diện năng lực.

5.3. Kết quả thực nghiệm Minh chứng hiệu quả sáng kiến

Hiệu quả của các giải pháp được kiểm chứng thông qua thực nghiệm sư phạm tại các lớp 10 trường THPT Bắc Yên Thành. Kết quả khảo sát sau thực nghiệm cho thấy sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đều được giáo viên và học sinh đánh giá ở mức cao (điểm trung bình chung từ 3.66 đến 3.76 trên thang 4). Các sản phẩm học tập của học sinh, từ phiếu học tập, sơ đồ tư duy, đến các bài sáng tác thơ Haiku và tranh vẽ, đều cho thấy sự tiến bộ vượt bậc. Học sinh trở nên chủ động hơn trong học tập, tự tin hơn khi trình bày quan điểm và thể hiện khả năng cảm thụ thẩm mĩ một cách tinh tế. Sáng kiến không chỉ thành công trong việc phát triển năng lực tự học và năng lực thẩm mĩ mà còn tạo ra một không khí học tập tích cực, sáng tạo, đáp ứng mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

11/09/2025
Skkn cấp tỉnh phát triển năng lực tự học và năng lực thẩm mĩ cho học sinh qua dạy học đọc hiểu văn bản chùm thơ hai cư haiku nhật bản ngữ văn 10 kết nối tri thức với cuộc sống

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề, tự giải quyết vấn đề. Đó là những hoạt động có tác dụng rèn luyện, phát triển tƣ duy logic đồng thời cũng là một dấu hiệu biểu đạt mức độ của sự phát triển trí tuệ. NLTH trong môn Ngữ văn có thể hiểu là khả năng tự khám phá, tự nghiên cứu, tự chiếm lĩnh các kiến thức về tiếng Việt, văn học bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có. Dƣới sự hƣớng dẫn của GV, HS sẽ đƣợc rèn luyện và phát huy những kĩ năng quan trọng nhƣ tự đọc sách, tài liệu, tự phát hiện luận điểm, tự lập dàn ý, tự tìm dữ liệu cho một nhận định,.

Để phát triển NLTH trong 9 môn Ngữ văn cho HS cần thực hiện cả ở trƣớc khi lên lớp, trong khi lên lớp và sau khi lên lớp. - Trước khi lên lớp, HS phải chuẩn bị bài ở nhà bằng việc soạn bài theo câu hỏi hƣớng dẫn học bài trong sách giáo khoa hoặc theo hƣớng dẫn của giáo viên. Ở khâu này, HS phải tự mình phát hiện vấn đề, thu thập thông tin, phân tích, cắt nghĩa và đánh giá nội dung đƣợc học để đề ra cách giải quyết vấn đề. Sản phẩm của hoạt động tự học này là bài soạn đƣợc ghi lại trong vở soạn văn, phiếu học tập,.

- Trong giờ học, dƣới sự tổ chức, hƣớng dẫn của GV, HS chủ động tham gia vào các hoạt động đọc, đặt và trả lời câu hỏi, nghe và phát biểu thảo luận, làm bài tập, luyện viết và tham gia các hoạt động khác nhƣ vẽ tranh, làm thơ, kể chuyện, đóng vai… - Sau giờ học, HS làm bài tập, tìm hiểu, tra cứu thêm tài liệu, đọc sách kết nối theo chủ đề hoặc theo thể loại, hoặc theo kiểu văn bản, ghi chép vào “sổ tay văn học”, sinh hoạt nhóm, câu lạc bộ, ngoại khóa… 2. ơ sở thực tiễn về dạy học hùm thơ hai-cƣ (haiku) Nhật Bản theo hƣớng phát triển năng lực cho S 2. Khảo sát về thực tiễn dạy - học Chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản 2. Mục đích và phương pháp khảo sát - Mục đích khảo sát: Khảo sát để thấy rõ thực trạng dạy học thơ hai cƣ (haiku) Nhật Bản tại trƣờng THPT Bắc Yên Thành và một số đơn vị trƣờng bạn trong huyện.

Trên cơ sở đó, phân tích đặc điểm đối tƣợng học sinh để đƣa ra hình thức, phƣơng pháp dạy học phù hợp. - Phương pháp khảo sát: Khảo sát bằng phiếu trả lời câu hỏi dành cho 2 đối tƣợng gồm GV Ngữ văn và HS lớp 10 trong năm học 2022 - 2023, 2023-2024. PHIẾU KHẢO SÁT GIÁO VIÊN VỀ THỰC TR NG D Y HỌC T Ơ - Ƣ( KU) N ẬT BẢN Câu hỏi 1. Thầy/Cô có chú trọng phát triển năng lực tự học và năng lực thẩm mĩ cho HS trong dạy học Ngữ văn không? (Chọn 1 phương án trả lời) Rất chú trọng Chú trọng Ít chú trọng Không chú trọng Câu hỏi 2.

Thầy/Cô đánh giá như thế nào về sự cần thiết của việc phát triển năng lực tự học và năng lực thẩm mĩ cho HS qua việc dạy văn bản chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản?(Chọn 1 phương án trả lời) Không cần thiết Ít cần thiết Cần thiết Rất cần thiết 10 Câu hỏi 3. Thầy/Cô mong muốn đạt mục tiêu dạy học gì sau khi hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản Chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản? Phân tích, đánh giá đƣợc giá trị thẩm mĩ của một số yếu tố trong thơ nhƣ từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp, nhân vật trữ tình. Liên hệ để thấy đƣợc một số điểm gần gũi về nội dung giữa các tác phẩm thơ thuộc hai nền văn hoá khác nhau. Biết cách thuyết trình (giới thiệu và đánh giá) về nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm thơ.

Có khả năng tự rung động, khám phá phát hiện, cảm thụ, nhận thức, đánh giá và sáng tạo đƣợc giá trị thẩm mĩ của văn chƣơng nói chung, của thơ hai-cƣ (haiku) Nhật Bản nói riêng. Mục tiêu khác. Theo Thầy/Cô, những nguyên nhân nào gây khó khăn cho việc phát triển năng lực tự học và năng lực thẩm mĩ cho HS trong môn Ngữ văn nói chung và khi dạy học thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản nói riêng? (có thể chọn nhiều câu trả lời) Tốn nhiều thời gian, công sức đầu tƣ thiết kế. HS lƣời tƣ duy, trình độ hạn chế.

Tâm lí đã quen với cách dạy học thƣờng ngày, không muốn thay đổi. Bản thân lúng túng trong các thao tác áp dụng các kĩ thuật/phƣơng pháp dạy học để phát triển năng lực tự học và thẩm mĩ cho HS. Nội dung bài học dài, cần dạy nhanh để kịp tiến độ chƣơng trình. Cơ sở vật chất thiếu thốn, không đáp ứng đƣợc các phƣơng pháp dạy học tích cực.

Khó khăn khác:. PHIẾU KHẢO SÁT HỌC SINH VỀ THỰC TR NG HỌC TẬP T Ơ - Ƣ( KU) N ẬT BẢN Câu hỏi 1: Quan điểm của bạn về tự học? Tự học rất quan trọng Không cần tự học đã có hƣớng dẫn của thầy/cô Câu hỏi 2: Trước khi học về thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản bạn đã được học/đọc những thể loại thơ nào của nước ngoài?. Câu hỏi 3: Bạn có hứng thú với việc học tập thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản không? Vì sao?. Câu hỏi 4: Chia sẻ những khó khăn của bạn khi học tập Chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản.

Câu 5: Bạn mong muốn điều gì sau khi học xong Chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản?. Quá trình khảo sát và kết quả khảo sát Để thực hiện đề tài nghiên cứu, chúng tôi tiến hành khảo sát GV và HS trong hai năm học 2022-2023, 2023-2024. Thời điểm khảo sát trƣớc khi học bài 2 Vẻ đẹp của thơ ca. Đối tƣợng khảo sát là HS lớp 10 trƣờng THPT Bắc Yên Thành và GV thuộc tổ bộ môn Ngữ văn của nhà trƣờng và một số GV cùng chuyên môn của trƣờng bạn.

Qua quá trình khảo sát chúng tôi thu đƣợc những kết quả nghiên cứu nhƣ sau: - Về phía GV: Chúng tôi khảo sát 27 GV môn Ngữ văn, kết quả có 27 thầy cô trả lời chú trọng/rất chú trọng việc phát triển NLTH và NLTM cho HS trong dạy học môn Ngữ văn. Cũng chừng ấy thầy cô đã thể hiện quan điểm cần thiết/rất cần thiết của việc phát triển NLTH và NLTM cho HS qua việc dạy học văn bản Chùm thơ hai-cƣ (haiku) Nhật Bản. Bên cạnh đó, các thầy cô đã chia sẻ những khó khăn khi thực hiện nội dung dạy học để phát triển năng lực cho HS: Tốn nhiều thời gian và công thức thiết kế ( 14/27 lựa chọn), HS lƣời tƣ duy và trình độ hạn chế (18/27 lựa chọn), Tâm lí đã quen với cách dạy thƣờng ngày không muốn thay đổi (10/27 lựa chọn), Bản thân lúng túng trong các thao tác áp dụng các kĩ thuật/phƣơng pháp dạy học để phát triển NLTH và NLTM cho HS (23/27 lựa chọn), Nội dung bài học dài, 12 cần dạy nhanh để kịp tiến độ chƣơng trình (20/27 lựa chọn), Cơ sở vật chất thiếu thốn, không đáp ứng đƣợc các phƣơng pháp dạy học tích cực (9/27 lựa chọn). - Về phía HS: Chúng tôi khảo sát tổng cộng 334 HS trong hai năm học thực hiện chƣơng trình GDPT 2018.

Kết quả: Có 219/334 HS khẳng định tự học rất quan trọng; đa số các em đều trả lời đã đƣợc học thơ Đƣờng - một thể thơ nƣớc ngoài trong chƣơng trình Ngữ văn. Với câu hỏi về sự hứng thú khi học Chùm thơ hai-cƣ (haiku) Nhật Bản, có 223/334 HS bày tỏ hứng thú vì đây là thể thơ ngắn, không mất thời gian đọc, trong khi các em còn nhiều môn học khác nữa. Các em cũng chia sẻ những khó khăn khi học tập thơ hai- cƣ (haiku) Nhật Bản: khó cảm nhận, phân tích, hiểu biết về thể thơ còn hạn chế. Cùng với điều đó, các em mong muốn sau khi học chùm thơ sẽ đƣợc hiểu thấu đáo hơn về thơ hai-cƣ (haiku), cảm nhận sâu sắc hơn những thông điệp mà thơ hai-cƣ (haiku) mang lại, có thể sáng tác thơ hai-cƣ (haiku).

Kết luận về thực tiễn dạy - học Chùm thơ hai-cư (haiku) Nhật Bản. Chùm thơ hai-cƣ (haiku) Nhật Bản đƣợc chọn làm ngữ liệu học tập đầu tiên cho bài 2 Vẻ đẹp của thơ ca (sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập 1- bộ Kết nối tri thức và cuộc sống). Nội dung dạy học trong thời lƣợng 2 tiết. Đây cũng là bài học đầu tiên về thể loại thơ trong chƣơng trình Ngữ văn THPT đối với HS.

Việc định hƣớng cho các em cách thức đọc hiểu để phát triển tốt NLTH và NLTM trong học tập môn văn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Sau khi phân tích kết quả khảo sát thực tiễn, tham vấn ý kiến của đồng nghiệp, chúng tôi nhận thấy: - Thuận lợi: Về phía GV: Đa số đều đề cao việc phát triển NLTH và NLTM của HS trong dạy học văn nói chung và dạy học văn bản thơ hai-cƣ (haiku) Nhật Bản nói riêng. Đây đƣợc xem là mục tiêu đúng đắn, phù hợp với yêu cầu của chƣơng trình GDPT 2018. Vì thế các thầy cô đƣợc khảo sát đều đánh giá cao sự cần thiết của việc phát triển đồng thời hai năng lực cơ bản này cho HS.

Về phía HS: Có gần 63 % HS bày tỏ quan điểm tự học rất quan trọng. Chứng tỏ các em ý thức cao vai trò của tự học, điều này sẽ là một thuận lợi không nhỏ khi GV giao nhiệm vụ học tập đòi hỏi tính tự chủ, tích cực cao ở các em. Bên cạnh đó có 67% HS thể hiện niềm hứng thú đối với thể thơ hai-cƣ cho thấy sự phù hợp ban đầu giữa văn bản chƣơng trình với nhu cầu của các em HS trong bối cảnh hiện đại. - Khó khăn: Về phía GV: Khó khăn lớn nhất (có đến 85% lƣợt lựa chọn) mà thầy cô chia sẻ khi thực hiện việc dạy học thơ hai-cƣ là bản thân lúng túng trong các thao tác khi áp dụng các kĩ thuật/phƣơng pháp dạy học để phát triển NLTH và NLTM cho HS.

Đây cũng chính là điều mà nhóm tác giả chúng tôi trăn trở. Ngoài ra các thầy cô giáo cũng chia sẻ thêm những khó khăn khi thực hiện các phƣơng pháp dạy học để phát triển 13 NLTH và NLTM cho HS qua văn bản thơ hai-cƣ nhƣ: tính hàm súc và đa nghĩa vốn có của thơ hai-cƣ, khả năng thấu suốt đặc trƣng văn hoá Nhật nhƣ một chìa khoá để giải mã văn bản thơ… là một thách thức không nhỏ đối với mỗi GV. Về phía HS: Những khó khăn của các em đều xuất phát từ vốn hiểu biết về văn hoá Nhật Bản và thể thơ hai-cƣ còn hạn chế do sự lệch pha giữa hai nền văn hoá và do thể thơ hai-cƣ các em cũng chƣa đƣợc học nhiều.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ