ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lí do chọn đề tài Dạy học vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật và nghệ thuật dạy học được thể hiện ở hình thức tổ chức dạy của giáo viên. Tuy nhiên, việc dổi mới phương pháp dạy học phát triển phẩm chất, năng lực chưa thực sự đươc nhiều GV thực hiện tốt, hầu hết vẫn trên nền tảng mô hình lớp học truyền thống đó là GV giảng dạy trên lớp, đặt câu hỏi, giao nhiệm vụ cho học sinh, học sinh thực hiện hoạt động học trên lớp, về nhà học sinh ôn bài và làm bài tập, với mô hình này thì với thời gian 45 phút trên lớp sẽ rất ngắn để cho học sinh có thể thảo luận, trao đổi những tình huống có vấn đề, những nội dung khó mang tính thực tiễn, hầu hết việc giảng và nghe giảng ước chừng đã tiêu tốn hết 90% thời gian của một buổi học, 10% còn lại là luyện tập trên lớp của cả giáo viên và học sinh. Do vậy khó nâng cao kết quả học tập lên bậc cao hơn như ứng dụng phân tích, sáng tạo.
Mặt khác, HS đã quen với việc thụ động tiếp thu kiến thức, chưa mạnh dạn thể hiện các thế mạnh của mình. Do vậy, cần có sự kết hợp giữa việc học online ở nhà và sự thảo luận, tranh luận, giải quyết các vấn đề khó ở trên lớp, và mô hình này được được áp dụng ở Mỹ và các nước tiên tiến cách đây từ 7 – 10 năm và mang lại hiệu quả cao trong dạy học. Đó là mô hình dạy học Filipped Classroom (Lớp học đảo ngược). Lớp học đảo ngược là một phương thức thiết kế dạy học theo mô hình kết hợp (Strayer, 2012) đã và đang phát triển tại nhiều quốc gia.
Dạy học theo mô hình Lớp học đảo ngược (LHĐN) là một trong những phương pháp dạy học hiện đại và đáp ứng được những yêu cầu nêu trên. Thay vì giảng bài như thường lệ, giáo viên (GV) lại là người hướng dẫn; ngược lại, người học thay vì tiếp thu kiến thức một cách thụ động từ GV, các em sẽ phải tự tiếp cận kiến thức ở nhà, tự mình trải nghiệm, khám phá, tìm tòi các thông tin liên quan về bài học. Mô hình này giúp HS phát huy và rèn luyện ý thức tự học, tính chủ động làm chủ quá trình học tập của chính bản thân mà không còn bị động, phụ thuộc trong quá trình khám phá tri thức. Sinh học là một môn học có vị trí quan trọng trong việc giáo dục toàn diện nhân cách của HS.
Song hiện nay, theo xu thế phát triển của thời đại, một tầng lớp thế hệ trẻ đã xem nhẹ và không lựa chọn, quay lưng lại với môn học. Vì sao HS không thích học Sinh học? Vì sao HS không hứng thú với môn Sinh học? Đó là một câu hỏi lớn khiến những người làm công tác giáo dục, đặc biệt là GV dạy bộ môn Sinh học trăn trở để tìm ra lời giải. Vậy làm thế nào để khơi dậy hứng thú học tập môn Sinh của HS? Để làm được điều này người dạy phải thay đổi tư duy và phương pháp giảng dạy. Trong đó trọng tâm hàng đầu là phải cải tiến, đổi mới, ứng dụng CNTT, vận dụng sáng tạo các phương pháp dạy học tích cực và đặc biệt là tiếp cận phương pháp giáo dục mới.
1 Hiện nay, trong thực tiễn dạy học ở các nhà trường việc đổi mới chương trình dạy học đã có những bước chuyển mình, song kết quả mang lại chưa đạt yêu cầu đề ra. Bỡi vẫn còn tình trạng giảng dạy đang chú trọng truyền thụ kiến thức mới mà chưa quan tâm đến việc phát triển năng lực tự học, tự khám phá của học sinh. Vậy nên, sau khi học xong các em chưa biết vận dụng kiến thức vào thực hành, còn nhiều hạn chế trong việc kết nối những kiến thức liên quan vào giải quyết những vấn đề trong thực tiễn. Cùng với đó, việc sử dụng công nghệ thông tin của các em còn mang tính chất giải trí, chưa đi sâu khám phá vào các kho học liệu số, bài giảng điện tử nên dẫn đến hiệu quả học tập chưa cao.
Qua nghiên cứu chương trình và thực tiễn dạy học cho thấy, môn Sinh học 10, có nhiều kiến thức mới, khó và mang tính trừu tượng; môn học đòi hỏi học sinh cần có ý thức tự học, tự đào sâu và tìm tòi kiến thức ở ngoài giờ học. Chính vì vậy, ngoài phương pháp dạy học truyền thống thì giáo viên cần suy nghĩ tìm ra các phương pháp dạy học mới phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học là điều hết sức cần thiết. Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy có nhiều phương pháp dạy học tích cực có thể hình thành và phát triển năng lực cho học sinh. Tuy nhiên dạy học kết hợp giữa cách học truyền thống trên lớp và cách học hiện đại E-learning còn khá hạn chế, các kĩ thuật dạy học tích cực với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và các phần mềm hiện đại chưa được triển khai nhiều.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn biện pháp: “Phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh trong dạy học bài “ Các phân tử sinh học” Sinh học 10 thông qua vận dụng mô hình lớp học đảo ngược (FLIPPED CLASSROOM) kết hợp với thiết bị dạy học số”. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của mô hình dạy học Filipped classroom (Lớp học đảo ngược). - Xây dựng quy trình dạy học theo mô hình dạy học Filipped classroom (Lớp học đảo ngược). - Thông qua nghiên cứu về cơ sở lí luận và thực tiễn về dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược, các năng lực trong dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực nói chung và dạy học sinh học nói riêng để đề xuất quy trình vận dụng dạy học Bài: “Các phân tử sinh học, Sinh học 10”.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về dạy học phát triển NLHT và chuyển đổi số trong giáo dục. - Thực nghiệm sư phạm để xét tính khả thi và hiệu quả của đề tài nghiên cứu. Đối tượng tác động Các công cụ số, các kĩ thuật dạy học tích cực và các hình thức hoạt động theo nhóm có thể sử dụng vào dạy học Bài: “Các phân tử sinh học, Sinh học 10” đáp ứng mục tiêu phát triển năng lực hợp tác cho học sinh và chuyển đổi số trong giáo dục nhằm phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh. Thời gian, địa điểm thực hiện - Thời gian nghiên cứu: Đề tài thực hiện từ tháng 9/2022 đến tháng 1/2024.
- Địa điểm: Tại trường THPT Đô Lương 1, tỉnh Nghệ An 5. Cách thức thực hiện - Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu, phân tích và tổng hợp tài liệu có liên quan để tổng quan tình hình nghiên cứu, từ đó xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài. - Phương pháp chuyên gia: Gặp gỡ, trao đổi với các chuyên gia trong lĩnh vực mà mình nghiên cứu, từ đó có những định hướng cho việc nghiên cứu đề tài. - Phương pháp điều tra: Thông qua hình thức dự giờ, quan sát, tiếp xúc, trao đổi với GV để tìm hiểu thực trạng đổi mới PPDH và ứng dụng công nghệ trong dạy học.
- Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành dạy thực nghiệm để kiểm tra tính khả thi của giải pháp. - Phương pháp thống kê: thu thập số liệu và xử lý, thống kê để khái quát kết quả nghiên cứu. Điểm mới và đóng góp của đề tài - Góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lí luận về dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược và dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực. - Xác định được quy trình thiết kế các chủ đề dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược với sự trợ giúp của các thiết bị dạy học số.
- Đề xuất được quy trình tổ chức dạy bài: “Các phân tử sinh học, Sinh học 10” , theo mô hình lớp học đảo ngược với sự trợ giúp của các thiết bị dạy học số. PHẦN NỘI DUNG I. Lớp học đảo ngược là gì? Theo Abeysekera & Dawson, (2015), mô hình Filipped classroom là một mô hình “đảo ngược’’ trình tự dạy học so với mô hình dạy học theo phương pháp truyền thống. Trong một lớp học “đảo ngược”, người học sẽ phải xem trước các bài giảng do giảng viên cung cấp thông qua các công cụ trực tuyến, thực hiện các bài tập, nghiên cứu tại nhà, sau đó vào giờ học trực tiếp tại lớp người học chỉ tập trung vào việc thảo luận các vấn đề chuyên sâu với sự hỗ trợ, hướng dẫn của giảng viên.
Mô hình Flipped classroom được xem là một phương pháp học tập tích cực có thể thu hút được sự tham gia của người học, giúp người học tập trung hơn và mang đến hiệu quả học tập tốt hơn, phù hợp với mọi trình độ và sở thích của người học. Lớp học đảo ngược (Flipped classroom) là một mô hình dạy học mới ra đời trong khoảng 10 - 15 năm nay ở Mỹ, được áp dụng rộng rãi trong nhiều trường học, từ tiểu học đến đại học, đã đảo ngược cách tổ chức dạy học theo lớp học truyền thống. Sự khác biệt giữa lớp học truyền thống và “Lớp học đảo ngược ” qua bảng sau: Lớp học truyền thống Lớp học đảo ngược GV chuẩn bị giáo án lên lớp GV thiết kế bài giảng, video, tài liệu ở nhà chia sẻ lên mạng. HS nghe giảng và ghi chép HS xem bài giảng, video, tài liệu trên bài trên lớp.
mạng, học kiến thức cơ bản tại nhà, học kiến thức nâng cao ở lớp. HS được giao bài tập vận HS học bài mới kiến thức cơ bản ở nhà, dụng và làm tại nhà sau khi học thảo luận kiến thức nâng cao và làm bài tập bài mới ở lớp. vận dụng ở lớp. GV là trung tâm, HS lĩnh hội HS là trung tâm, tự tìm hiểu, trải nghiệm, kiến thức thụ động.
khám phá kiến thức. GV là người tổ chức, định hướng, hỗ trợ HS. Việc ứng dụng công nghệ Bắt buộc phải ứng dụng công nghệ thông thông tin và truyền thông vào dạy tin và truyền thông vào dạy - học. - học còn hạn chế.
Thời gian học diễn ra cố định Có thể học mọi lúc mọi nơi với mọi thiết bị 4 trên lớp. chỉ cần thiết bị đó có thể online. Hạn chế khả năng tương tác Tăng cường khả năng tương tác giữa HS- giữa HS- HS, giữa HS với thầy. HS, giữa HS với thầy.