ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lí do chọn đề tài. Đối với các nước trên thế giới thì dạy học bằng phương pháp thí nghiệm đã được nghiên cứu và ứng dụng từ rất lâu và khá phổ biến. Các nhà khoa học cũng như nhiều nhà giáo dục nổi tiếng như Galile, I.Konmenxki…đều coi trọng giáo dục lí thuyết phải gắn liền với giáo dục thực hành thí nghiệm, cần phải phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học.
Ở Việt Nam giáo dục đang hướng tới giáo dục toàn diện về mọi mặt cho học sinh, trong đó phát triển năng lực được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất. Học sinh không những chỉ học những kiến thức cơ bản mà còn biết ứng dụng các kiến thức đó vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. Điều đó được quan tâm rõ rệt trong việc dạy học lí thuyết kết hợp với dạy học thực hành thí nghiệm. Sinh học là bộ môn khoa học thực nghiệm, vì vậy việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học các bài Sinh học là một biện pháp quan trọng nâng cao chất lượng dạy và học.
Thí nghiệm góp phần làm cho học sinh học tập một cách tích cực, gây hứng thú học tập cho HS, kiến thức thu được chắc chắn và sâu sắc. Thí nghiệm còn giúp làm sáng tỏ lý thuyết, khơi dậy tính tò mò khoa học cho HS, rèn luyện kỹ năng thực hành, nghiên cứu khoa học, giúp các em có niềm tin vào khoa học, hình thành thói quen giải quyết vấn đề bằng khoa học. Đổi mới mục tiêu dạy học là chuyển từ dạy chú trọng đến truyền đạt nội dung sang đào tạo năng lực, thì sử dụng thí nghiệm có cơ hội tốt trong việc rèn luyện kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, người học được rèn luyện từ khâu lập kế hoạch thực hiện, thu thập số liệu, xử lý và viết báo cáo tổng kết, do vậy người học được đặt vào vị trí người nghiên cứu. Đặc biệt, trong chương trình Sinh học 10 – Chương trình giáo dục phổ thông 2018, nhất là phần Sinh học tế bào có rất nhiều thí nghiệm mới mà chương trình cũ 2006 không có, thí nghiệm có thể dùng để dạy bài mới, ôn tập củng cố bài đã học hoặc dùng để kiểm tra đánh giá kết quả.
Các hoạt động TH-TN có thể được bố trí trong cả bài lí thuyết hoặc bài thực hành với thời gian tiến hành khác nhau và nhằm những mục đích khác nhau. Hiện nay, việc tổ chức và ứng dụng các hoạt động TH-TN trong dạy học nói chung và môn Sinh học nói riêng ở các trường THPT rất được nhà trường và học sinh quan tâm. Tuy nhiên việc sử dụng các thí nghiệm Sinh học vẫn còn rất hạn chế và chưa thực sự đem lại hiệu quả trong quá trình dạy học. Thiếu trang thiết bị hoặc trang thiết bị không đảm bảo chất lượng cùng với sự nhận thức chưa đúng đắn của GV đã làm cho việc sử dụng TN trong dạy học Sinh học không thường xuyên.
Những thí nghiệm tốn kém, phức tạp, mất nhiều thời gian với năng lực sử dụng khai thác, tổ chức HS nhận thức TN của GV còn hạn chế khiến cho hiệu quả sử dụng TN trong nhà trường phổ thông hiện nay chưa cao. Đặc biệt qua hai năm đại dịch CoV-19 cả nước đều học online, vì vậy hoạt động TN – TH không được thực hiện, và hầu hết các tiết thực hành đều bị giảm tải, HS chỉ học lý thuyết suông chứ không được vận dụng, do đó việc tiếp thu kiến thức cũng bị hạn chế, các em cũng không có hoặc rất kém về kĩ năng thực hành các thí nghiệm Sinh học. 1 Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã quyết định chọn và thực hiện đề tài: “Phát triển năng lực thực hành thí nghiệm cho học sinh trong dạy học phần Sinh học tế bào – Sinh học 10”. Mục đích nghiên cứu.
Sáng kiến kinh nghiệm đưa ra được hệ thống thí nghiệm và quy trình sử dụng thí nghiệm để phát triển năng lực thực hành thí nghiệm cho học sinh trong dạy học phần Sinh học tế bào - Sinh học 10 góp phần nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh ở trường trung học phổ thông. Nhiệm vụ nghiên cứu. - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thí nghiệm, năng lực thực hành - thí nghiệm cho học sinh trong dạy học. - Điều tra thực trạng sử dụng thí nghiệm để rèn năng lực thực hành – thí nghiệm cho HS trong dạy học Sinh học ở trường THPT.
- Phân tích mục tiêu, nội dung kiến thức Sinh học 10, đặc biệt là phần Sinh học tế bào, từ đó hệ thống các thí nghiệm được sử dụng trong phần này. - Nghiên cứu thiết kế hệ thống thí nghiệm và sử dụng thí nghiệm trong dạy học nhằm phát triển năng lực thực hành – thí nghiệm cho học sinh THPT. - Xây dựng công cụ đánh giá năng lực thực hành – thí nghiệm của học sinh. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
- Khách thể: Học sinh lớp 10C1, 10C2, 10C3, 10C8 trường trung học phổ thông Nam Đàn 2, năm học 2022 – 2023 và năm học 2023 – 2024. - Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống thí nghiệm và quy trình sử dụng thí nghiệm trong dạy học phần Sinh học tế bào – Sinh học 10, Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Phương pháp nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
- Nghiên cứu nội dung một số văn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước và các chỉ thị của Bộ GD & ĐT về đổi mới PPDH, nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay ở nhà trường phổ thông. Đồng thời nghiên cứu các tài liệu (Sách, báo, tạp chí.) về vấn đề phát triển năng lực TH-TN của HS trong dạy học nói chung và dạy học môn Sinh học nói riêng. - Nghiên cứu nội dung, chương trình kiến thức và hệ thống thí nghiệm trong phần Sinh học tế bào – Sinh học 10. - Nghiên cứu nhũng tài liệu khác có liên quan.
Phương pháp chuyên gia. Trao đổi trực tiếp, xin ý kiến của các chuyên gia phương pháp dạy học, giáo dục học và GV dạy bộ môn Sinh học ở một số trường THPT về biện pháp sử dụng thí nghiệm trong dạy học để phát triển năng lực thực hành thí nghiệm cho học sinh. Phương pháp điều tra cơ bản. - Khảo sát và dự giờ một số tiết học môn Sinh học của GV khác trong trường và một số trường trên địa bàn.
- Điều tra thực trạng về năng lực thực hành thí nghiệm của học sinh ở các trường THPT trong và ngoài huyện. - Sử dụng phiếu điều tra đối với GV và HS. Phương pháp thực nghiệm sư phạm. Tổ chức giảng dạy thực nghiệm, cho bài kiểm tra trước và sau thực nghiệm, so sánh, đối chiếu kết quả trước và sau quá trình thực nghiệm ở từng lớp và giữa các lớp nhằm kiểm tra tính đúng đắn và hiệu quả của đề tài.
Phương pháp thống kê toán học. - Thu thập và thống kê số liệu từ kết quả của tất cả các lần tiến hành thực nghiệm sau đó xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS. - Sử dụng phần mềm excel để tính toán các tham số phù hợp. Thời gian nghiên cứu Từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 4 năm 2024 7.
Những đóng góp mới của sáng kiến kinh nghiệm. - Góp phần xây dựng cơ sở lý luận của việc phát triển năng lực thực hành thí nghiệm của học sinh trong phần Sinh học tế bào. - Đề xuất quy trình xây dựng và sử dụng hệ thống thí nghiệm nhằm phát triển năng lực thực hành - thí nghiệm cho HS. - Thiết kế bộ công cụ đánh giá năng lực thực hành – Thí nghiệm.
3 PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU I. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài. Cơ sở lý luận của đề tài. Khái niệm năng lực.
Khái niệm năng lực theo chương trình GDPT tổng thể 2018: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Trên cơ sở những vấn đề về năng lực chúng tôi đưa ra khái niệm: Năng lực là khả năng vận dụng các kiến thức kĩ năng đã được học vào việc giải quyết hiệu quả các tình huống trong cuộc sống. Cấu trúc năng lực.
Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định được các thành phần và cấu trúc của chúng. Trong thực tế có nhiều loại năng lực khác nhau do đó cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau. Cấu trúc chung của năng lực được thể hiện qua sơ đồ sau: Hình 1. Mô hình cấu trúc chung của năng lực.
Năng lực thực hành thí nghiệm. Khái niệm năng lực thực hành thí nghiệm. Thí nghiệm là phương pháp nghiên cứu đối tượng và hiện tượng trong những điều kiện nhân tạo. Trong phức hệ những điều kiện tự nhiên tác động lên cơ thể sinh vật, người nghiên cứu chỉ chọn một vài yếu tố riêng biệt để nghiên cứu lần lượt ảnh hưởng của chúng.
4 Thực hành là HS tự mình trực tiếp tiến hành quan sát để tiến hành thí nghiệm, tập triển khai các quy trình kĩ thuật trong chăn nuôi, trồng trọt. Thực hành thí nghiệm được hiểu là tiến hành các thí nghiệm trong các hoạt động thực hành được HS thực hiện để HS hiểu rõ mục đích thí nghiệm, điều kiện thí nghiệm. Qua thực hành và quan sát thí nghiệm, HS xác định được bản chất của hiện tượng quá trình. Trên cơ sở đó, trong lĩnh vực khoa học tự nhiên chúng tôi quan niệm: Năng lực thực hành thí nghiệm là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng thực nghiệm cùng với thái độ tích cực và hứng thú để giải quyết các vấn đề đặt ra trong thực tiễn một cách phù hợp và có hiệu quả.
Cấu trúc năng lực thực hành thí nghiệm. Từ những nghiên cứu và thực tiễn dạy học chúng tôi đề xuất cấu trúc năng lực TH-TN và bộ tiêu chí đánh giá năng lực TH-TN của HS như sau: Bảng 1. Cấu trúc và các tiêu chí của NL TH-TN NL TH-TN Tiêu chí Xác định mục tiêu, hình thành - Xác định được mục đích TN. giả thuyết thực nghiệm - Đề xuất được giả thuyết TN.
- Chuẩn bị được các nguyên vật liệu cần cho Chuẩn bị nguyên liệu, dụng cụ TN (dụng cụ, hóa chất, mẫu vật). TN, thiết kế TN - Tự thiết kế được TN đó (qua xem GV hướng dẫn hoặc tự nghiên cứu SGK). - Tiến hành được các TN.