CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lí luận của đề tài 1. Một số khái niệm 1.
Năng lực Theo Wikipedia, Năng lực (tiếng Anh: Ability hay Competency) là khả năng và thực lực mà một tác nhân phải thực hiện các hành động khác nhau để đạt được kết quả. Năng lực là tổng hợp các đặc điểm và thuộc tính tâm lý cá nhân, phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo hoạt động đó đạt hiệu quả. Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người có khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao.
Đây chính là kiến thức, kỹ năng, khả năng và hành vi cần phải có để đáp ứng yêu cầu công việc và là yếu tố giúp một cá nhân làm việc hiệu quả hơn so với những người khác. Theo từ điển tâm lý học, năng lực (competency) là tập hợp những tố chất, phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là nền tảng tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện bất kỳ một hoạt động nào đó. Theo đó, năng lực không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó, như trí nhớ, tri giác,. mà là sự tổng hợp của các thuộc tính tâm lý cá nhân.
Các nhà giáo dục học Việt Nam đã nêu ra nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực: Theo tác giả Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn (1998): “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy”. Theo tác giả Nguyễn Cương: “Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” Thông tư 32/2018/TT- BGDĐT có nêu rõ khái niệm năng lực theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 được hiểu như sau: Năng lực: là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. 4 Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát rằng: Năng lực chính là sự kết hợp của khả năng, phẩm chất, thái độ của một cá nhân hay tổ chức để thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả.
Năng lực được hình thành và phát triển phần lớn nhờ vào quá trình học tập, rèn luyện và trải nghiệm. Năng lực sáng tạo Nhà Tâm lý học Đức Pigpig (1988) định nghĩa: “Năng lực sáng tạo là thuộc tính nhân cách đặc biệt, thể hiện khi con người đứng trước hoàn cảnh có vấn đề. Thuộc tính nhân cách này là tổ hợp các phẩm chất tâm lý mà nhờ đó con người trên cơ sở kinh nghiệm của mình và bằng tư duy độc lập tạo ra được ý tưởng mới, độc đáo, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xã hội. Ở đó người sáng tạo gạt bỏ được các giải pháp truyền thống và đưa ra các giải pháp mới, độc đáo và thích hợp đối với vấn đề đặt ra”.
Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn: “Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những cái mới hoặc giải quyết vấn đề một cách mới mẻ của con người” Có thể nói, những quan niệm về năng lực sáng tạo nói trên đều thống nhất cho rằng đó là khả năng tạo ra cái mới có giá trị dựa trên những phẩm chất độc đáo của cá nhân như tư duy sáng tạo, động cơ sáng tạo và ý chí. Những định nghĩa nói trên đã giúp chúng ta phân biệt năng lực sáng tạo với các năng lực khác của con người. Nhà tâm lý học Nga L. Vưgốtxki khẳng định: “Sự sáng tạo thật ra không phải chỉ có ở nơi nó tạo ra những tác phẩm lịch sử vĩ đại, mà ở khắp nơi nào con người tưởng tượng, phối hợp, biến đổi và tạo ra một cái gì mới, cho dù cái mới ấy nhỏ bé đến đâu đi nữa so với những sáng tạo của các thiên tài”.
Trong đời sống hàng ngày xoay quanh chúng ta, sáng tạo là một điều kiện cần thiết của sự tồn tại và tất cả cái gì vượt qua khuôn khổ cũ và chứa đựng dù chỉ một nét của cái mới, thì nguồn gốc của nó đều do quá trình sáng tạo của con người. Hệ thống các bài thực hành trong chương trình Địa lí 11 (Bộ sách Cánh Diều) chương trình GDPT năm 2018 1. Số lượng và phân bố các bài thực hành Địa lí 11 chương trình GDPT năm 2018 SGK Địa lí 11 chương trình GDPT năm 2018 (Bộ sách Cánh Diều) bao gồm 12 bài thực hành, được sắp xếp thành 2 phần: + Phần 1. Một số vấn đề về kinh tế - xã hội Thế giới, gồm 02 bài thực hành.
Bài 4: Tìm hiểu về toàn cầu hóa, khu vực hóa. Bài 6: Viết báo cáo về nền kinh tế tri thức. Địa lí khu vực và quốc gia, gồm 10 bài thực hành. Bài 8: Viết báo cáo về tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở Cộng hòa Liên bang Bra – xin.
5 Bài 10: Viết báo cáo về công nghiệp của Cộng hòa Liên bang Đức. Bài 13: Tìm hiểu về hoạt động du lịch và kinh tế đối ngoại của khu vực Đông Nam Á. Bài 15: Viết báo cáo về vấn đề dầu mỏ ở khu vực Tây Nam Á. Bài 18: Tìm hiểu hoạt động xuất, nhập khẩu của Hoa Kỳ.
Bài 21: Tìm hiểu về công nghiệp khai thác dầu khí của Liên bang Nga. Bài 24: Viết báo cáo về hoạt động kinh tế đối ngoại của Nhật Bản. Bài 27: Viết báo cáo về sự thay đổi của nền kinh tế Trung Quốc. Bài 28: Đọc bản đồ, phân tích số liệu, tư liệu và viết báo cáo về tình hình phát triển kinh tế Ô – xtray – li – a.
Bài 31: Tìm hiểu về công nghiệp khai thác khoáng sản của Cộng hòa Nam Phi. Các bài thực hành trong chương trình Địa lí 11(Bộ sách Cánh Diều) được thiết kế rất khoa học, phù hợp với nội dung, chương trình. Sau các tiết dạy và học lí thuyết của mỗi đơn vị kiến thức đều có các tiết học thực hành để HS rèn luyện kĩ năng và vận dụng các kiến thức đã được học để giải quyết vấn đề và nhiệm vụ được giao. Phân loại các bài thực hành Địa lí 11 theo chương trình GDPT năm 2018 + Dựa vào phạm vi, quy mô của các bài thực hành Địa lí, có: - Loại bài thực hành về Địa lí Thế giới.
- Loại bài thực hành về Địa lí khu vực. - Loại bài thực hành về Địa lí quốc gia. + Dựa vào mục đích, yêu cầu của các bài thực hành Địa lí, có: - Loại bài thực hành tìm hiểu về các vấn đề KT - XH của thế giới và quốc gia. - Loại bài thực hành viết báo cáo về các vấn đề KT - XH của thế giới và quốc gia.
- Loại bài thực hành về đọc bản đồ, phân tích số liệu, tư liệu địa lí. Ý nghĩa của việc phát triển năng lực sáng tạo thông qua dạy học các bài thực hành Địa lí 11 1. Đối với HS Giúp HS ghi nhớ kiến thức sâu hơn. Để giải quyết yêu cầu của các bài thực hành, HS thường phải trải qua một quá trình quan sát, phân tích, tổng hợp, phán đoán dựa trên những kiến thức đã được học và những kinh nghiệm thực tiễn của bản thân.
Vì vậy, việc giải quyết nhiệm vụ của 6 các bài thực hành sẽ giúp các em hiểu kiến thức sâu hơn, ghi nhớ và vận dụng tốt hơn. Thông qua các bài thực hành, HS có thể bổ sung được những kiến thức mới cho bản thân mình. Giúp HS phát triển trí tuệ, tình cảm bản thân Tất cả các bài thực hành trong chương trình SGK Địa lí 11, chương trình GDPT 2018 đều đặt ra những nhiệm vụ, vấn đề cần giải quyết đối với HS. Để giải quyết được các yêu cầu đó, buộc HS phải hoạt động trí tuệ: quan sát, phân tích, tổng hợp, vận dụng, phán đoán.
Có những nhiệm vụ các em phải nhớ lại kiến thức đã học ở các tiết học, các phần kiến thức đã học trước đó. HS phải biết cách kết hợp các yếu tố, các thành phần khác nhau từ nhiều nguồn thông tin để đưa vào trong sản phẩm học tập. Như vậy, HS sẽ có được hệ thống kiến thức rộng hơn, ghi nhớ lâu hơn và vận dụng tốt hơn. Để làm được điều đó, HS không chỉ thực hiện nhiệm vụ độc lập, mà còn trao đổi, thảo luận, chia sẻ ý tưởng khi làm việc với nhóm bạn để cùng đưa ra phương án tốt nhất.
Qua đó, HS sẽ có điều kiện phát triển tình cảm bản thân, có ý thức trách nhiệm trong học tập và hợp tác trong làm việc. Giúp HS rèn luyện và phát triển kĩ năng làm việc nhóm. Trong quá trình học tập và làm việc, kĩ năng làm việc nhóm sẽ giúp mỗi thành viên cùng nhau đóng góp ý tưởng, suy nghĩ về nhiệm vụ được giao. Mỗi người cùng làm việc, cùng suy nghĩ sẽ giúp nhóm có được nhiều thông tin, nhiều sáng kiến hấp dẫn để giải quyết nhiệm vụ một cách dễ dàng, nhanh chóng.
Không những vậy, làm việc nhóm hiệu quả còn là động lực tạo nên nguồn cảm hứng, hứng thú cho HS khi thực hiện nhiệm vụ. Là điều kiện để tăng sự đoàn kết, gắn bó với nhau và rèn luyện các kĩ năng mềm cho bàn thân. Đối với GV Là phương tiện giáo dục hiệu quả Việc đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ cần giải quyết thông qua các bài học thực hành, đòi hỏi HS phải tìm kiếm thông tin, hợp tác làm việc với đồng đội và đưa ra các ý tưởng mới lạ để sản phẩm của nhóm mình đạt chất lượng tốt nhất. Điều đó sẽ thôi thúc HS phải có ý thức, trách nhiệm trong làm việc.
Phát hiện năng khiếu, tài năng tiềm ẩn của HS để bồi dưỡng, phát triển. Việc phát triển năng lực sáng tạo thông qua dạy học các bài thực hành sẽ giúp GV phát hiện ra những tài năng, năng khiếu tiềm ẩn của HS, nhất là những năng khiếu liên quan đến thẩm mĩ như: hội họa, thiết kế, sơ đồ tư duy.