phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung nghiên cứu gồm hai phần: Phần I. Cơ sở của đề tài, gồm cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn. Các phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh trường THPT Nguyễn Sỹ Sách qua dạy học đọc hiểu chương trình Ngữ văn 10”. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Lý luận chung về dạy học phát triển năng lực 1. Khái niệm năng lực Khái niệm năng lực có nghĩa gốc chung mà Từ điển tiếng Việt đã nêu lên là: “a) Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; b) Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao. Trong tài liệu tập huấn của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh thì quan niệm năng lực là: “Sự kết hợp một cách linh hoạt có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,. nhằm đáp ứng hiệu quả một nhu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định.” Chương trình tổng thể giáo dục phổ thông mới giải thích khái niệm năng lực như sau: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí.
thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”. Từ định nghĩa trên, có thể rút ra những đặc điểm chính của năng lực là: - Năng lực là sự kết hợp giữa tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện của người học. - Năng lực là kết quả huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí. - Năng lực được hình thành, phát triển thông qua hoạt động và thể hiện ở sự thành công trong hoạt động thực tiễn.
Yêu cầu cần đạt về năng lực trong chương trình giáo dục phổ thông mới Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) tổng thể được Ban Chỉ đạo đổi mới chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông thông qua ngày 28/7/2017, mục tiêu giáo dục phổ thông mới hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi sau: Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. 4 Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất. Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, Chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của học sinh. Môn Ngữ văn ở trường THPT là môn học mang tính công cụ và tính thẩm mĩ - nhân văn.
Cụ thể là giúp HS có phương tiện giao tiếp, làm cơ sở để học tập tất cả các môn học và hoạt động giáo dục khác trong nhà trường; đồng thời cũng là công cụ quan trọng để giáo dục HS những giá trị cao đẹp về văn hóa, văn học và ngôn ngữ dân tộc; phát triển ở HS những cảm xúc lành mạnh, tình cảm nhân văn, lối sống nhân ái, vị tha. Thông qua các văn bản ngôn từ và những hình tượng nghệ thuật sinh động trong các văn bản, bằng các hoạt động đọc, viết, nói và nghe, môn Ngữ văn có vai trò to lớn trong việc giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp cũng như các năng lực cốt lõi để sống và làm việc hiệu quả, để học tập suốt đời Đặc điểm này tạo cho môn Ngữ văn có những lợi thế để giáo viên có thể sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực nhằm phát triển các năng lực cho học sinh, bao gồm các năng lực đặc thù của bộ môn và năng lực chung, đặc biệt trong đó có năng lực giao tiếp và hợp tác. Chương trình giáo dục định hướng năng lực Chương trình định hướng nội dung là chương trình tập trung xác định và nêu ra một danh mục đề tài, chủ đề của một môn học nào đó. Nghĩa là tập trung trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn học sinh cần biết những gì? Cách tiếp cận thường mang tính “hàn lâm”, nặng về lí thuyết và tính hệ thống.
Chương trình định hướng năng lực chúng ta muốn học sinh biết và có thể làm được những gì? Có nghĩa là tập trung vào hệ thống năng lực cần có ở mỗi người học; xuất phát từ những năng lực thiết yếu, cần có này mà lựa chọn và đề xuất các nội dung dạy học. Chương trình định hướng năng lực giúp học sinh không chỉ biết học thuộc, ghi nhớ mà còn phải biết làm; phải thông qua các hoạt động cụ thể, sử dụng tri thức học được để giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra. Nói cách khác là phải gắn với thực tiễn đời sống. Sau đây là bảng so sáng sự khác nhau giữa chương trình định hướng nội dung và chương trình định hướng năng lực: 5 Chương trình định Chương trình định hướng phát hướng nội dung triển năng lực Nội dung giáo Việc lựa chọn nội dung dựa Lựa chọn nội dung nhằm đạt được dục vào các khoa học chuyên kết quả đầu ra đã quy định, gắn với môn, không gắn với các tình các tình huống thực tiễn.
Chương huống thực tiễn. Nội dung trình chỉ quy định nội dung chính được quy định chi tiết trong không quy định chi tiết. chương trình. Mục tiêu giáo Mục tiêu dạy học được mô Kết quả học tập cần đạt được mô tả dục tả không chi tiết và không chi tiết và có thể quan sát, đánh giá nhất thiết phải quan sát được; thể hiện mức độ của học sinh đánh giá được.
một cách liên tục. Hình thức dạy Chủ yếu dạy học lí thuyết Tổ chức hình thức học tập đa dạng; học trên lớp học chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học. Điều kiện dạy Chủ yếu khai thác điều Sử dụng các điều kiện cơ sở vật chất học kiện dạy học trong phạm vi trong trường như: phòng máy chiếu, nhà trường. thư viện, phòng thí nghiệm.
Khai thác các điều kiện bên ngoài như: cơ sở văn hóa, di tích lịch sử, internet, cơ sở nghiên cứu. Phương pháp Giáo viên chủ yếu là người Giáo viên chủ yếu là người tổ chức, dạy học truyền thụ kiến thức, là hỗ trợ cho học sinh tự học. Chú trung tâm của quá trình dạy trọng phát triển khả năng giao tiếp, học. Học sinh tiếp thu thụ giải quyết vấn đề.
Sử dụng các động những tri thức được phương pháp dạy học tích cực. quy định sẵn. Đánh giá kết Tiêu chí đánh giá được xây Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực quả học tập dựng chủ yếu dựa trên sự đầu ra, có tính đến sự tiến bộ trong ghi nhớ và tái hiện nội quá trình học tập, chú trọng khả dung đã học. năng vận dụng trong các tình huống thực tiễn.
Quản lý dạy Cơ chế bao cấp áp đặt mệnh Cơ chế phân quyền, tăng cường sự học lệnh. Chương trình giáo dục chủ động sáng tạo của cơ sở. được thực hiện rập khuôn, Giáo viên, tổ chuyên môn, nhà máy móc của quy định cấp trường chủ động phát triển chương trên. trình giáo dục nhà trường phổ thông; xây dựng kế hoạch giáo dục; chủ động thực hiện chương trình và kế hoạch giáo dục.
6 Như vậy: Chương trình giáo dục Phổ thông theo định hướng phát triển năng lực không quy định những nội dung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn. Trong chương trình, mục tiêu học tập - tức kết quả học tập mong muốn thường được mô tả thông qua hệ thống các phẩm chất, năng lực. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là dạy học theo chuẩn và định hướng kết quả sản phẩm đầu ra. Kết quả đầu ra cuối cùng của quá trình dạy học là học sinh vận dụng được kiến thức, kĩ năng đã học vào giải quyết các tình huống thực tiễn trong cuộc sống, nghề nghiệp.
Mục tiêu cuối cùng của dạy học theo định hướng phát triển năng lực không phải là hệ thống kiến thức, khối lượng nội dung, hay biết thật nhiều mà là thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất, nhân cách người học, chú trọng năng lực cần có để sống tốt hơn, làm việc hiệu quả hơn, đáp ứng được những yêu cầu của xã hội đang thay đổi từng ngày. Dạy học theo định hướng năng lực rất cần chú ý đến cách thức, phương pháp tổ chức các hoạt động học tập đa dạng, phong phú, linh hoạt. Sau mỗi giờ học theo định hướng này, học sinh không chỉ được mở mang về tri thức mà còn hiểu và biết cách tìm ra tri thức đó; biết tri thức đó giúp được gì cho mình trong cuộc sống hằng ngày và để đi xa hơn trong tương lai. Dạy học theo định hướng năng lực lấy người học làm trung tâm, chuyển trọng tâm đến sự tương tác, tự quản lý học tập và khám phá cá nhân của từng học sinh.
Học sinh được tham gia tích cực vào giờ học, tự tìm kiếm, phát hiện vấn đề, trao đổi, tranh luận để đi đến những hiểu biết về kiến thức và cách làm. Giáo viên có vai trò quan trọng trong việc nêu vấn đề, giao nhiệm vụ, tổ chức cho học sinh làm việc, trao đổi. cùng tham gia với học sinh và nêu lên những nhận xét của mình nếu thấy cần thiết. Lý luận chung về phương pháp dạy học phát triển năng lực trong môn Ngữ văn Phương pháp dạy học là tổ hợp cách thức hoạt động của thầy và trò trong quá trình dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của người thầy, nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học.
Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.