Lý do chọn đề tài. Phát triển giáo dục và đào tạo là nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, là yếu tố quan trọng nhất quyết định chất lượng nguồn nhân lực, quyết định sự phát triển của xã hội. Đặc biệt, trong xu thế toàn cầu hoá như hiện nay cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học - kỹ thuật đòi hỏi mỗi người dân Việt Nam phải không ngừng học tập, trau dồi kiến thức và hình thành cho mình các kỹ năng, năng lực cần thiết của một người công dân trong thời đại mới. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra mục tiêu đổi mới chương trình giáo dục nhằm đào tạo nguồn nhân lực có trách nhiệm, có văn hoá, cần cù, sáng tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của cá nhân và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại toàn cầu hoá.
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 được xây dựng trên quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực người học thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức, kĩ năng cơ bản, thiết thực, hiện đại, hài hoà đức, trí, thể, mĩ, chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống. Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, các em học sinh sẽ được hình thành và phát triển 5 phẩm chất và 10 năng lực thiết yếu để từ đó phát huy và vận dụng tối đa khả năng của mình vào thực tiễn. Năng lực giao tiếp và hợp tác được xem là một trong những năng lực quan trọng của con người trong xã hôi hiện đại. Không chỉ là cầu nối gắn kết mối quan hệ giữa mọi người mà năng lực giao tiếp và hợp tác còn là chìa khoá dẫn lối thành công trong mọi lĩnh vực.
Tương tác với người khác sẽ tạo cơ hội trao đổi và phản ánh về ý tưởng. Hành động xây dựng ý tưởng để chia sẻ thông tin hoặc lập luận để thuyết phục người khác là một phần quan trọng học tập và làm việc. Giao tiếp và hợp tác tốt sẽ giúp chúng ta chia sẻ trách nhiệm, hỗ trợ lẫn nhau để phát huy tốt tiềm năng của từng người. Sự liên kết, phối hợp ăn ý nhau sẽ tạo ra được nhiều giá trị hơn so với việc tận dụng sức mạnh của từng người riêng lẻ.
Rõ ràng, bồi dưỡng để phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh là cấp thiết và cần được chú trọng trong chương trình giáo dục phổ thông. Nhận thức được vấn đề đó, trong quá trình giảng dạy, chúng tôi đã trăn trở, tìm tòi các biện pháp với nhiều cách tiếp cận khác nhau với mong muốn bồi dưỡng phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh qua từng bài học, tiết dạy. Ở đây, chúng tôi xin mạnh dạn đưa ra đề tài: Phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh thông qua dạy chủ đề “Cấu trúc của tế bào”- Sinh học 10 THPT. Hy vọng với đề tài này sẽ mang lại hiệu quả tích cực cho đồng nghiệp và học sinh khi 1 áp dụng.
Mục đích nghiên cứu. Đề tài tập trung nghiên cứu, tìm hiểu và đánh giá thực trạng và thiết kế các hoạt động dạy học bằng vận dụng các kỹ thuật dạy học tích cực thông qua dạy chủ đề “Cấu trúc của tế bào” – Sinh học 10 THPT nhằm phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sịnh. Thiết kế bộ công cụ kiểm tra, đánh giá sự phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.
- Phạm vi nghiên cứu: Điều tra về thực trạng dạy học phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác đối với giáo viên và học sinh; Thiết kế các hoạt động dạy học để đánh giá năng lực giao tiếp và hợp tác thông qua dạy chủ đề “Cấu trúc của tế bào” – Sinh học 10 THPT. - Đối tượng nghiên cứu: phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác thông qua dạy chủ đề “Cấu trúc của tế bào” – Sinh học 10 THPT. Phương pháp nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài như: các tài liệu liên quan kiến thức di truyền học quần thể; cơ sở lí luận về năng lực giao tiếp và hợp tác; các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực. - Nghiên cứu các tài liệu về phương pháp giảng dạy Sinh học; các giáo trình; luận văn, luận án, tạp chí, bài viết và các Website liên quan đến đề tài nghiên cứu. Phương pháp điều tra. - Điều tra chất lượng dạy học đánh giá năng lực giao tiếp và hợp tác ở một số trường THPT thông qua phiếu điều tra, trao đổi, phóng vấn giáo viên và học sinh.
Phương pháp tham vấn chuyên gia. - Gặp gỡ, trao đổi với người hướng dẫn giỏi về lĩnh vực mình nghiên cứu, lắng nghe sự tư vấn của những người có kinh nghiệm để giúp định hướng cho việc triển khai nghiên cứu đề tài. + Phương pháp thực nghiệm khoa học. + Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm.
Phương pháp thực nghiệm sư phạm. Sau khi thiết kế bộ công cụ kiểm tra, đánh giá năng lực giao tiếp và hợp tác và thiết kế các hoạt động dạy học vận dụng các kỹ thuật dạy học tích cực trong chủ đề “Cấu trúc của tế bào” – Sinh học 10 THPT, chúng tôi tiến hành thực nghiệm ở một 2 số lớp tại trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An để kiểm tra tính đúng đắn, tính thực tiễn của đề tài. Phương pháp thống kê toán học. Sử dụng phần mềm excel và SPSS để tính toán các tham số phù hợp.
Những đóng góp mới của đề tài. Điều tra được thực trạng của việc dạy học phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác ở một số giáo viên và học sinh trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Thiết kế bộ công cụ kiểm tra, đánh giá sự phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác thông qua dạy học nhóm chủ đề Sinh học cho học sinh THPT. Thiết kế được các hoạt động dạy học bằng vận dụng các kỹ thuật dạy học tích cực để phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác trong học chủ đề 5 “Cấu trúc của tế bào” – Sinh học 10 THPT.
Cơ sở lí luận của đề tài. Khái niệm về năng lực, năng lực giao tiếp và hợp tác.1 Năng lực là gì? Hiện nay, các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam đã đưa ra nhiều định nghĩa về năng lực, ví dụ như: Theo A.Coovaliôp: “Năng lực là một tập hợp hoặc tổng hợp những thuốc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu câu lao động và đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao”. Theo Từ điển Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân “Năng lực là khả năng đảm nhận công việc và thực hiện tốt công việc đó nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn”. Theo Đinh Quang Báo: “Năng lực là một thuộc tính tích hợp nhân cách, tổ hợp các đặc tính tâm lí của cá nhân, phù hợp với những yêu câu của một hoạt động xác định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt đẹp”.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi dựa vào định nghĩa năng lực của Xavier Roegier: Năng lực là tích hợp các kĩ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loạt các tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề do những tình huống nay đặt ra.2 Năng lực giao tiếp và hợp tác là gì? - Giao tiếp: Giao tiếp là một quá trình hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe nhằm đạt được một mục đích nào đó. Mục đích của giao tiếp là nhằm thiết lập và củng cố các mối quan hệ xã hội. Hoạt động giao tiếp có thể tiến hành bằng ngôn ngữ hoặc bằng các hệ thống ký hiệu khác. Trong đó, giao tiếp bằng ngôn ngữ là hoạt động giao tiếp chủ đạo trong đời sống con người.
Khái niệm về năng lực giao tiếp lần đầu được xuất hiện trong những năm 1970 khi nhà ngôn ngữ học Hymes phân biệt hai loại năng lực: “năng lực ngữ pháp” và “năng lực sử dụng”. Từ đó, khái niệm “năng lực giao tiếp” được hình thành để chỉ việc sử dụng hiệu quả ngôn ngữ trong một tình huống xã hội cụ thể. Abbou, năng lực giao tiếp được xem xét dưới góc độ xã hội nhiều hơn là ngôn ngữ. Theo Abbou, năng lực giao tiếp của một người nào đó là “tổng hợp năng lực vốn có và các khả năng thực hiện được hệ thống tiếp nhận và diễn giải các tín hiệu xã hội có được theo đúng như tập hợp các chỉ dẫn và quy trình đã được xây dựng và phát triển để tạo ra trong một tình huống xã hội các hành xử phù hợp với việc xem xét các dự định của mình”.
4 Dưới góc nhìn ngôn ngữ học của mình, Beautier – Casting lại cho rằng năng lực giao tiếp là “năng lực vốn có của người nói để hiểu một tình huống trao đổi ngôn ngữ và trả lời một cách thích hợp, bằng ngôn ngữ hay không bằng ngôn ngữ. Giao tiếp giúp HS suy nghĩ để trình bày kết quả của mình đến người khác một cách rõ ràng và thuyết phục. Trong quá trình giao tiếp, các ý tưởng cũng được đánh giá xem xét từ nhiều góc nhìn giúp con người nhận thức vấn đề sâu sắc hơn. Đồng thời quá trình giao tiếp cũng tạo ra sự tương tác, kết nối về mặt cảm xúc tình cảm.
- Hợp tác: Hợp tác là cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm một mục đích chung. Sự hợp tác diễn ra ở các mặt: Thể hiện khả năng làm việc hiệu quả và tôn trọng với các nhóm đa dạng; Vận dụng tính linh hoạt và sẵn lòng giúp ích trong việc thực hiện các thỏa hiệp cần thiết để đạt được mục tiêu chung; Giả định trách nhiệm được chia sẻ đối với công việc hợp tác và các đóng góp cá nhân có giá trị được thực hiện bởi mỗi thành viên trong nhóm. Hợp tác trong dạy học là sự kết hợp giữa tính tập thể và tính cá nhân thực hiện các biện pháp có cơ sở khoa học để tổ chức, điều khiển các mối quan hệ vận động và phát triển theo một trật tự nhất định nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học. Trong đó, giáo viên (GV) là người chỉ đạo hoạt động tự học của HS, giúp HS tự tìm ra tri thức qua quá trình cá nhân hóa và xã hội hóa.