Chương I. Cơ sở lý luận của đề tài. Lý luận về dạy học nhằm phát triển năng lực cho học sinh THPT 1. Khái niệm về năng lực.
Căn cứ theo quy định tại Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT có nêu rõ: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” 2. Các năng lực học sinh theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 Bộ GD - ĐT đã ban hành “Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018” Theo đó, chương trình GDPT đã chỉ rõ chú trọng hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi như sau: - Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. - Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất.
- Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu của học sinh. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo - Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo có thể được hiểu là khả năng của con người phát hiện ra vấn đề cần giải quyết và biết vận dụng những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm của bản thân, sẵn sàng hành động để giải quyết tốt vấn đề đặt ra. Năng lực giải quyết vấn đề là tổ hợp các năng lực thể hiện ở các kĩ năng (thao tác tư duy và hành động) trong hoạt động nhằm giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ của vấn đề mà ở đó không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường. - Giải quyết vấn đề và sáng tạo là hoạt động đặc thù trong quá trình tìm hiểu và khám phá thế giới sống.
Vì vậy, phát triển năng lực này là một trong những nội dung giáo dục cốt lõi của môn Sinh học. Năng lực chung này được hình thành, phát triển trong quá trình tổ chức cho học sinh đề xuất vấn đề, nêu giả thuyết, lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch tìm hiểu các hiện tượng đa dạng của thế giới sống gần gũi với cuộc sống hằng ngày. - Yêu cầu cần đạt năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cấp THPT trong chương trình GDPT 2018. 4 Năng lực thành phần Yêu cầu cần đạt Biết xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới và phức tạp từ các nguồn thông tin khác nhau; biết phân tích các Nhận ra ý tưởng mới: nguồn thông tin độc lập để thấy được khuynh hướng và độ tin cậy của ý tưởng mới.
Phát hiện và làm rõ Phân tích được tình huống trong học tập, trong cuộc vấn đề sống; phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập, trong cuộc sống Nêu được nhiều ý tưởng mới trong học tập và cuộc Hình thành và triển sống; suy nghĩ không theo lối mòn; tạo ra yếu tố mới khai ý tưởng mới dựa trên những ý tưởng khác nhau; hình thành và kết nối các ý tưởng; nghiên cứu để thay đổi giải pháp trước sự thay đổi của bối cảnh; đánh giá rủi ro và có dự phòng. Biết thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến Đề xuất, lựa chọn giải vấn đề; biết đề xuất và phân tích được một số giải pháp pháp giải quyết vấn đề; lựa chọn được giải pháp phù hợp nhất. - Lập được kế hoạch hoạt động có mục tiêu, nội dung, hình thức, phương tiện hoạt động phù hợp; - Tập hợp và điều phối được nguồn lực (nhân lực, vật Thiết kế và tổ chức lực) cần thiết cho hoạt động. hoạt động - Biết điều chỉnh kế hoạch và việc thực hiện kế hoạch, cách thức và tiến trình giải quyết vấn đề cho phù hợp với hoàn cảnh để đạt hiệu quả cao.
- Đánh giá được hiệu quả của giải pháp và hoạt động. Biết đặt nhiều câu hỏi có giá trị, không dễ dàng chấp nhận thông tin một chiều; không thành kiến khi xem xét, đánh giá vấn đề; biết quan tâm tới các lập luận và Tư duy độc lập minh chứng thuyết phục; sẵn sàng xem xét, đánh giá lại vấn đề. Đổi mới phương pháp dạy học môn Sinh học ở trường phổ thông theo hướng phát triển năng lực Thành Định hướng phương pháp , KTDH phát Phương pháp, phần, NL triển thành phần NL của NL sinh học KTDH sinh học Nhận thức - Để phát triển năng lực nhận thức sinh học, -PP: sinh học GV cần chú ý cho HS cơ hội huy động những + DH trực quan hiểu biết , kinh nghiệm sẵn có để hình thành kiến thức mới. + DH thực hành - Chú ý các hoạt động, trong đó HScó thể diễn + Dạy học GQVĐ đạt hiểu biết bằng cách riêng, so sánh, phân - KT: động não, sơ loại, hệ thống hoá kiến thức; vận dụng các kiến đồ tư duy, khăn thức đã học để giải thích các sự vật, hiện tượng trải bàn, phòng hay giải quyết vấn đề đơn giản, qua đó kết nối tranh… được kiến thức mới vớ hệ thống kiến thức - Tăng cường cho HS tự ĐG và ĐG lẫn nhau.
Tìm hiểu - GV cần tạo điều kiện để HS đư ra câu hỏi, - PP thế giới vấn đề cần tìm hiểu; tạo cho HS cơ hội tham + DH trực quan sống gia quá trình hình thành kiến thức mới, đề xuất và kiểm tra dự đoán giả thuyết; thu thập bằng + DH thực hành chứng, phân tích, xử lý để rút ra kết luận, ĐG + Dạy học GQVĐ kết quả thu được. + DH bằng NCKH - Cần tổ chức cho HS tự tìm ra các bằng chứng để kiểm tra các giả thuyết qua việc thực hiện + DH dựa trên dự các thí nghiệm hoặc tìm kiếm thu thập thông án tinh qua sách, báo internet… + DH thực địa - GV tạo điều kiện cho HS được trao đổi, thảo KT: SĐTD, KWL, luận với học sinh khác về quá trình tìm hiểu khăn trải bàn, của bản thân; trình bày và tự ĐG, ĐG nhau về phòng tranh, động các kết quả thu được. não, mảnh ghép… Vận dụng - GV cần chú ý tạo cơ hội cho HS đề xuất hoặc - PP KT, KN tiếp cận với các tình huống thực tế. HS được + DH thực hành đã học đọc, giải thích, trình bày thông tin về vấn đề thực thiễn cần giả quyết, trong đó nội dung + Dạy học GQVĐ sinh học có thể được sử dụng để giải thích và + DH bằng bài tập đư ra giải pháp.
tình huống - Cần quan tâm rèn luyện các KN thành tố của + DH dựa trên dự NL GQVĐ ch HS; phát hiện vấn đề; chuyển án vấn đề thành dạng có thể giải quyết bằng vận dụng kiến thức sinh học; lập kế hoạch nghiên + DH thực địa cứu, GQVĐ; ĐG kết quả GQVĐ; nêu giải KT: SĐTD, KWL, pháp khắc phục hoặc cải tiến. khăn trải bàn, phòng tranh, động não… 6 III. Tổng quan về dạy học dự án 1. Khái quát về phương pháp dạy học dự án DHTDA là phương pháp dạy học mà người dạy và người học cùng nhau giải quyết không chỉ về mặt lý thuyết mà còn về thực tiễn một nhiệm vụ học tập có tính chất tổng hợp, tạo điều kiện cho người học cùng nhau và tự quyết trong tất cả các giai đoạn học tập, kết quả là tạo ra được một sản phẩm hoạt động nhất định; Là phương pháp dạy học mà người dạy đóng vai trò là người định hướng các nhiệm vụ học tập, định hướng quá trình thực hiện cũng như quá trình tạo ra sản phẩm, người học trực tiếp thực hiện các giai đoạn của dự án học tập; Là phương pháp dạy học mà người học không thụ động tiếp nhận kiến thức từ người dạy mà chủ động tìm tòi, khám phá các kiến thức cần thiết thông qua các nhiệm vụ thực tế liên quan đến bài học.
DHTDA là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu. Sản phẩm này có thể là các báo cáo khoa học, mô hình, phầm mềm, mẫu vật, tư liệu sưu tầm. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện. Trong dạy học dự án, người học thường giải quyết các vấn đề khá lớn, qua nhiều công đoạn.
Vì vậy, làm việc nhóm là hình thức cơ bản của dạy học dự án. Người học thực hiện nhiệm vụ học tập thông qua quá trình hợp tác với người dạy và bạn bè trong nhóm cũng như thu thập thông tin từ thực tế và nhiều nguồn khác nhau. DHTDA là một mô hình dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Theo đó dưới sự hướng dẫn của giáo viên mà các nhóm học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập một cách tự lực, độc lập qua những giai đoạn nhất định: đề xuất ý tưởng, lập kế hoạch, thực hiện ý tưởng, tạo sản phẩm, công bố sản phẩm.
Qua đó, giúp phát triển kiến thức và các kỹ năng liên quan thông qua những nhiệm vụ mang tính mở, khuyến khích học sinh tìm tòi, thực hiện hóa những kiến thức đã học trong quá trình thực hiện và tạo ra những sản phẩm của chính mình. Chương trình dạy học theo dự án được xây dựng dựa trên những câu hỏi định hướng quan trọng, lồng ghép các chuẩn nội dung và tư duy bậc cao trong những bối cảnh thực tế. Các loại dự án học tập - Phân loại theo thời gian thực hiện: Dự án nhỏ: Với dự án nhỏ này sẽ được thực hiện trong 2 đến 6 giờ và lồng ghép trong một sống giờ học. Dự án trung bình: Nó còn được gọi là ngày dự án khi được thực hiện vài ngày.
Với giới hạn thời lượng trong 40 giờ học hoặc 1 tuần. Dự án lớn: Với thời gian thực hiện có lượng thời gian nhiều, kéo dài trong nhiều tuần.