Chương 1. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo 1. Năng lực giải quyết vấn đề Theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng, mâu thuẫn là động lực của sự phát triển. Mâu thuẫn luôn tồn tại và tạo thành những vấn đề - “điều cần được xem xét, nghiên cứu, giải quyết” [13; tr.1364] - trong cuộc sống của con người.Và để phát triển bản thân, đồng thời, góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, con người cần biết cách giải quyết - “làm cho đạt kết quả, không còn khó khăn, trở ngại” [13; tr.
Cuộc sống luôn đặt ra cho con người những vấn đề cần giải quyết. Để giải quyết vấn đề hiệu quả và tối ưu, con người cần phải có năng lực GQVĐ. Đây là một trong những năng lực cần phải có ở mỗi cá nhân. Do đó, chương trình GDPT 2018 đã xác định năng lực GQVĐ là một trong năng lực chung, cốt lõi cần phải hình thành và phát triển cho HS trong tất cả các cấp học, đặc biệt là cấp THPT.
Và để thực hiện được mục tiêu này, chương trình GDPT 2018 đã chỉ rõ: năng lực GQVĐ là khả năng cá nhân sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động và thái độ, động cơ, xúc cảm để giải quyết những tình huống vấn đề mà ở đó không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường. Năng lực này được biểu hiện qua việc phát hiện và hiểu vấn đề; đề xuất và lựa chọn giải pháp, lập kế hoạch và thực hiện giải pháp; đánh giá và phản ánh giải pháp, vận dụng vào GQVĐ mới một cách hiệu quả với tinh thần tích cực. Năng lực sáng tạo Sáng tạo và năng lực sáng tạo là những vấn đề được quan tâm trong thời điểm hiện nay ở nền giáo dục của nhiều nước trên thế giới. Quốc gia nào sở hữu nhiều cá nhân sáng tạo, quốc gia đó có sức mạnh.
Chính vì vậy, nhiệm vụ của giáo dục không chỉ là sự cung cấp tri thức đơn thuần mà còn phải tạo ra những cá nhân có năng lực, đặc biệt là năng lực sáng tạo. Nhiều nhà giáo dục học và tâm lý học trong nước và trên thế giới đã đưa ra những quan niệm của mình về sáng tạo và năng lực sáng tạo. Tuy cách diễn đạt khác nhau nhưng các quan điểm nêu ra đều khẳng định sáng tạo là một hoạt động của tư duy nhằm làm ra cái mới, là cái trước đó chưa có đối với cá nhân và xã hội. Và đó phải là cái mới có ý nghĩa.
Còn năng lực sáng tạo là thuộc tính của cá nhân, dựa trên sự huy động kiến thức, kĩ năng và những yếu tố khác như hứng thú, niềm tin, ý chí. để làm ra cái mới gồm ý tưởng mới, giải pháp mới, sản phẩm mới ở những mức độ khác nhau trong những tình huống học tập và cuộc sống theo một cách riêng biệt, mới mẻ và có hiệu quả. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Trên cơ sở khái niệm năng lực giải quyết vấn đề và năng lực sáng tạo, chúng ta dễ dàng nhận thấy mối quan hệ gắn bó chặt chẽ của hai năng lực này. Cụ thể: - Để giải quyết được vấn đề, con người không thể chỉ dựa vào cái đã có mà phải tìm ra cái mới chưa có sẵn.
- Sáng tạo là quá trình làm ra cái mới, không theo logic thông thường và được nảy sinh chủ yếu trong những tình huống có vấn đề. - Giải quyết vấn đề và sáng tạo đều là những điều kiện cần thiết để thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và xã hội. Từ đó, chúng ta có thể hiểu năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo là nhóm năng lực cốt lõi của mỗi cá nhân, dựa trên sự huy động kiến thức, kĩ năng và những yếu tố khác (như hứng thú, niềm tin, ý chí…) để giải quyết hiệu quả tình huống có vấn đề và tạo ra những cái mới có giá trị, có ý nghĩa đối với sự phát triển của cá nhân và của xã hội. Cấu trúc và biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Theo chương trình GDPT 2018, năng lực GQVĐ&ST bao gồm các thành tố với những biểu hiện khác nhau đối với từng cấp học.
Ở cấp THPT, năng lực GQVĐ&ST có cấu trúc và biểu hiện cụ thể như sau: Thành tố Biểu hiện Nhận ra ý tưởng mới Biết xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới và phức tạp từ các nguồn thông tin khác nhau; biết phân tích các nguồn thông tin độc lập để thấy được khuynh hướng và độ tin cậy của ý tưởng mới. Phát hiện và làm rõ Phân tích được tình huống trong học tập, trong cuộc vấn đề sống; phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập, trong cuộc sống. Hình thành và triển Nêu được nhiều ý tưởng mới trong học tập và cuộc sống; khai ý tưởng mới suy nghĩ không theo lối mòn; tạo ra yếu tố mới dựa trên những ý tưởng khác nhau; hình thành và kết nối các ý tưởng; nghiên cứu để thay đổi giải pháp trước sự thay đổi của bối cảnh; đánh giá rủi ro và có dự phòng. Đề xuất, lựa chọn Biết thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến giải pháp vấn đề; biết đề xuất và phân tích được một số giải pháp giải quyết vấn đề; lựa chọn được giải pháp phù hợp nhất.
Thiết kế và tổ chức - Lập được kế hoạch hoạt động có mục tiêu, nội dung, hoạt động hình thức, phương tiện hoạt động phù hợp. 6 - Tập hợp và điều phối được nguồn lực (nhân lực, vật lực) cần thiết cho hoạt động. - Biết điều chỉnh kế hoạch và việc thực hiện kế hoạch, cách thức và tiến trình giải quyết vấn đề cho phù hợp với hoàn cảnh để đạt hiệu quả cao. - Đánh giá được hiệu quả của giải pháp và hoạt động.
Tư duy độc lập Biết đặt nhiều câu hỏi có giá trị, không dễ dàng chấp nhận thông tin một chiều; không thành kiến khi xem xét, đánh giá vấn đề; biết quan tâm tới các lập luận và minh chứng thuyết phục; sẵn sàng xem xét, đánh giá lại vấn đề. Như vậy, so với cấp Tiểu học và THCS, các thành tố trong cấu trúc năng lực GQVĐ&ST ở cấp THPT được biểu hiện với mức độ cao hơn, hoàn thiện quá trình phát triển hai năng lực này ở HS. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo 1. Quy trình phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh Tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực GQVĐ&ST là tổ chức các tình huống sao cho HS có thể tự lực giải quyết vấn đề và sáng tạo bằng sự cố gắng của chính các em và dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của GV.
GV cần sắp xếp các tình huống nối tiếp nhau bằng cách cung cấp các dữ liệu cho HS. Một tình huống thích hợp sẽ giúp HS hành động sáng tạo và có kết quả. Việc tổ chức dạy học theo hướng phát triển năng lực GQVĐ&ST được thực hiện theo 6 bước, cụ thể: - Bước 1. Đề xuất vấn đề: GV đưa ra tình huống có vấn đề, tạo cho HS có động cơ hứng thú học tập; đồng thời định hướng cho HS phát hiện được vấn đề cần giải quyết.
Giải quyết vấn đề: GV yêu cầu HS phối hợp nhau để xác định mục tiêu vấn đề và đưa ra các giải pháp để giải quyết vấn đề và sáng tạo. Để định hướng cho HS giải quyết được các vấn đề đặt ra, GV cần bố trí các tình huống nối tiếp nhau để HS suy nghĩ, tìm kiếm câu trả lời. Rút ra kết quả giải quyết vấn đề: GV yêu cầu HS tổng hợp các câu trả lời đã được gợi ý và rút ra kết quả của giải quyết vấn đề. Suy ra hệ quả cần kiểm chứng: GV hướng dẫn cho HS cách thức để hợp thức hoá và đi đến kết luận kiến thức từ kết quả GQVĐ, kết quả đó được xem như một giả thuyết.
Việc kiểm chứng giả thuyết được thực hiện thông qua suy luận lí thuyết hoặc thực nghiệm của chính HS. Kết luận kiến thức: Sau khi HS đã kiểm chứng bằng suy luận lí thuyết hoặc thực nghiệm, GV yêu cầu HS so sánh kết quả kiểm chứng. Nếu kết quả của các suy luận phù hợp với nhau thì kết quả GQVĐ được hợp thức hoá và đi đến kết luận kiến thức. Nếu kết quả của các suy luận không phù hợp thì cần kiểm chứng lại và suy ra kết quả cần kiểm chứng lại.
Vận dụng kiến thức: GV tổ chức cho HS vận dụng kiến thức để giải các bài tập hoặc giải thích các hiện tượng liên quan đến kiến thức vừa học. Qua đó, GV rèn luyện cho HS kĩ năng phân tích và tổng hợp khi vận dụng kiến thức. Như vậy, để phát triển năng lực GQVĐ&ST cho HS, GV cần nắm vững quy trình và tổ chức hoạt động dạy học theo các bước nêu trên một cách linh hoạt, phù hợp với đối tượng HS và nội dung bài học. Đặc biệt, GV cần chú ý tạo ra các tình huống có vấn đề, kịp thời định hướng cho hoạt động tìm tòi của HS, góp phần rèn luyện cho các em kĩ năng phát hiện và phân tích vấn đề, kĩ năng đề xuất giải pháp, kĩ năng phân tích, tổng hợp, so sánh và khái quát vấn đề, từ đó, phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
Tiêu chí đánh giá sự phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh Dạy học theo định hướng phát triển năng lực GQVĐ&ST không chỉ cần thực hiện đúng quy trình các bước (như đã nêu trên) mà còn cần phải bám sát các tiêu chí đánh giá sự phát triển năng lực GQVĐ&ST. Từ biểu hiện của năng lực GQVĐ&ST, GV có thể thực hiện đánh giá sự phát triển những năng lực này của HS theo các tiêu chí sau: Tiêu chí Mức độ Yêu cầu Tiêu chí 1. Mức độ 1 Biết xác định và làm rõ thông tin, chưa có ý tưởng Nhận ra ý mới; Biết thu nhận thông tin từ tình huống, nhận ra tưởng mới; những vấn đề đơn giản. Phát hiện Mức độ 2 Biết xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới đối và làm rõ với bản thân từ các nguồn tài liệu cho sẵn theo vấn đề hướng dẫn; Biết thu nhận thông tin từ tình huống, nhận ra những vấn đề đơn giản và đặt được câu hỏi Mức độ 3 Biết xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới; biết phân tích, tóm tắt những thông tin liên quan từ nhiều nguồn khác nhau; Phân tích được tình huống trong học tập, phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập.