Chương 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Văn bản thông tin 1. Khái niệm Ở Việt Nam, trước khi CT GDPT 2018 được ban hành theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT của Bộ GD&ĐT, thuật ngữ VBTT chưa được sử dụng trong nhà trường.
CT Ngữ văn hiện hành 2006 của Việt Nam chưa định danh được VBTT và cũng chưa đề xuất những biện pháp, hình thức dạy học cho loại VB này. Khái niệm VBTT được sử dụng nhiều trong nghiên cứu vài năm trở lại đây, khi Việt Nam tham gia kì đánh giá quốc tế PISA của tổ chức OECD chính thức được sử dụng trong CT GDPT môn Ngữ văn từ khi Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT có hiệu lực thi hành. CT này được thực hiện theo lộ trình: CT lớp 10 thực hiện từ năm học 2022 - 2023, lớp 11 (2023 - 2024), lớp 12 (2024 - 2025). VBTT là kết quả của việc xem xét, phân loại VB dựa trên mục đích giao tiếp hoặc thực hiện chức năng xã hội của VB.
So với cách phân loại dựa trên nội dung thể hiện của VB, cách phân loại này phù hợp và hiệu quả hơn với mục tiêu phát triển NL giao tiếp cho học sinh thông qua môn Ngữ văn, định hình được phương pháp dạy học cho từng loại VB. Từ đó, để phân biệt với VBVH (loại VB sử dụng hư cấu, tưởng tượng nhằm bộc lộ tư tưởng, thái độ, cảm xúc của người viết) và văn bản nghị luận (VBNL) (loại VB sử dụng chủ yếu lí lẽ và dẫn chứng nhằm thuyết phục người đọc về vấn đề nào đó), theo chúng tôi, VBTT nên được hiểu là loại VB sử dụng, mô tả, phân tích các sự kiện, số liệu, sơ đồ, bảng biểu thống kê chủ yếu nhằm mục đích /thực hiện chức năng truyền đạt thông tin. Hiểu theo nghĩa này, VBTT là một dạng của VB đa phương thức. CT GDPT môn Ngữ văn 2018 khẳng định: “VBTT là kiểu VB nhằm cung cấp thông tin một cách trung thực, khách quan thông qua việc mô tả, giải thích, giới thiệu, trình bày số liệu, sự kiện”…Đây là loại VB rất gần gũi, thiết thực với đời sống, hết sức đa dạng và phong phú nhưng có thể gom lại ở hai kiểu: 1/VB thuyết minh (chủ yếu là các VB khoa học viết về các hiện tượng tự nhiên, xã hội; các VB hướng dẫn cách làm hoặc sử dụng đồ dùng; giới thiệu danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử); 2/VB nhật dụng (hiểu theo nghĩa là những VB hành chính, mang tính thủ tục khuôn mẫu hàng ngày như đơn từ, giấy chứng nhận, bảo hiểm, biên bản, tờ khai…).
VBTT thường xuất hiện trong sách giáo khoa các môn học, các tài liệu quảng cáo, các báo hoặc trang web, được viết theo các phong cách ngôn ngữ như sinh hoạt, báo chí, chính luận, khoa học, hành chính. Đó có thể là VB được in trên giấy theo kiểu truyền thống hoặc là những VB kĩ thuật số. Đây là loại VB phổ biến và hữu dụng trong học tập và trong đời sống sinh hoạt của mỗi cá nhân. Do đó, HS cần thiết phải được hướng dẫn đọc hiểu loại VB này trong nhà trường.
Đặc điểm của văn bản thông tin Với cách hiểu như trên, chúng tôi thấy rằng VBTT không phải là loại VB luôn chỉ có những đặc điểm riêng biệt, cụ thể. Đặc điểm của loại VB này sẽ thay đổi theo từng kiểu VB cụ thể. Về cơ bản, đặc điểm của VBTT thể hiện ở những mặt sau: Thứ nhất, nội dung trình bày trong VBTT có tính thời sự, cập nhật. Thông tin được đề cập đến trong loại VB này dù thuộc vấn đề tự nhiên hay xã hội đều là những vấn đề quan trọng, cần thiết đối với con người và xã hội.
Ví dụ: viết nội quy lớp học, nội quy câu lạc bộ, hướng dẫn tham gia các sự kiện hay hoạt động tập thể, giới thiệu một cuốn sách, kiến nghị miễn giảm học phí, giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc một di tích lịch sử, phỏng vấn GV/HS/nhà quản lí GD, báo cáo nghiên cứu về phương pháp dạy học cho người lớn,.Do vậy, VBTT được xem là loại VB rất phổ biến và hữu dụng trong học tập, trong công việc và đời sống sinh hoạt của mỗi cá nhân. Cho nên, trong trường phổ thông, ngay từ giai đoạn GD cơ bản và nhất là ở giai đoạn GD định hướng nghề nghiệp, HS cần được dạy học phát triên năng lực đọc hiểu loại VB này để ứng dụng vào thực tiễn. Thứ hai, VBTT trình bày thông tin một cách khách quan, cung cấp thông tin về đối tượng một cách chi tiết. Thông qua cách thức lựa chọn, phân loại, tổ chức thông tin của tác giả, người đọc được cung cấp kiến thức/ thông tin về đối tượng một cách chi tiết.
Cách cung cấp này không nhằm mục đích thể hiện suy nghĩ, tình cảm, thái độ,… mang tính chủ quan của người viết, mà chủ yếu nhằm mục đích thông báo, cung cấp thông tin dựa trên những căn cứ (số liệu, biểu bảng, chú thích, minh chứng, kết luận,…) chính xác và khách quan. Trong khi VBVH chủ yếu sử dụng hư cấu, tưởng tượng nhằm bộc lộ tư tưởng, thái độ, cảm xúc của người viết, VBNL sử dụng chủ yếu lí lẽ và dẫn chứng nhằm thuyết phục người đọc về vấn đề nào đó. Thứ ba, VBTT sử dụng từ ngữ thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau, thiên về học thuật, minh họa bằng thực tế và hình ảnh, các chương, mục,… Do vậy, đọc văn khác đọc lịch sử, khác đọc khoa học (sơ đồ, bảng biểu, dữ liệu), trước hết liên quan đến hệ thống thuật ngữ. Ngoài hệ thống thuật ngữ chuyên ngành, VBTT sử dụng từ ngữ toàn dân, đảm bảo chuẩn chính tả và đơn nghĩa, đồng thời sử dụng các cấu trúc, tuân thủ các nguyên tắc cú pháp và ngữ pháp VB theo chuẩn ngữ pháp tiếng Việt, các cách thức hoặc phương tiện để hỗ trợ người đọc trong việc tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng và có hiệu quả.
Đó có thể là mục lục, số trang, đề mục và những phương tiện hình ảnh đa dạng như một bảng nội dung, một chỉ số, chữ in đậm hoặc in nghiêng, chú giải cho vốn từ vựng chuyên ngành, định nghĩa từ vựng chuyên ngành, minh họa bằng hình ảnh, chú thích đồ thị và biểu đồ.chủ yếu nhằm tác động vào lí trí, thay đổi nhận thức và hành động của người đọc. VBTT thường ít sử dụng các biện pháp tu từ. Nếu có, chỉ nhằm hỗ trợ việc diễn đạt như tác động tâm lí và tình cảm để thông tin đến nhanh và tác động mạnh hơn đến người đọc trong các VB viết bằng phong cách ngôn ngữ chính luận, phong 10 cách ngôn ngữ sinh hoạt. Do đó, việc dạy học phát triển năng lực đọc hiểu VBTT sẽ giúp HS đáp ứng những yêu cầu của học tập và đời sống.
Thứ tư, VBTT phong phú về thể loại, đa dạng về hình thức thể hiện. VBTT có những hình thức sau: sách tham khảo, sách giáo khoa, sách chuyên ngành, sách viết về những thông tin mang tính quá trình (sách viết về vòng đời của một loại động vật, sách viết về quá trình tạo ra và biến đổi của một loại vật chất), tạp chí, báo, áp phích quảng cáo, trang web, CD-ROM. Trong nhà trường, VBTT thường xuất hiện trong sách giáo khoa các môn học, các tài liệu quảng cáo, các báo hoặc trang thông tin điện tử., được viết theo các phong cách ngôn ngữ như sinh hoạt, báo chí, chính luận, khoa học, hành chính. Chúng có thể là VB được in trên giấy theo kiểu truyền thống hoặc là những VB kĩ thuật số.
Đây là loại VB rất phổ biến và hữu dụng trong học tập và đời sống sinh hoạt của mỗi cá nhân. Vì vậy, HS rất cần được dạy học đọc hiểu loại VB này trong nhà trường để ứng dụng vào thực tiễn. Việc giảng dạy VBTT trong CT là một biểu hiện cụ thể của nguyên tắc dạy Ngữ văn gắn với đời sống, góp phần thực hiện mục tiêu dạy học Ngữ văn ở phổ thông, tiếp cận xu hướng phát triển NL người học. Chúng tôi xác định một số đặc điểm của VBTT trong sự đối sánh với VB văn học (VBVH) và VBNL được thể hiện trong Bảng 1 dưới đây.
Tiêu chí Văn bản văn học Văn bản thông tin Văn bản nghị luận Mục đích Chủ yếu phản ánh Chủ yếu truyền đạt Chủ yếu thuyết phục hiện thực cuộc sống thông tin. người đọc trước qua thế giới hình quan điểm, tư tưởng tượng và thể hiện của tác giả về một quan niệm, thông vấn đề. điệp của nhà văn về cuộc sống. Ngôn ngữ Chủ yếu sử dụng Sử dụng kênh chữ kết Chủ yếu sử dụng kênh chữ.
Ngôn ngữ hợp kênh hình (hình kênh chữ. Đề cao mang tính thẩm mĩ, ảnh, sơ đồ, đồ thị, biểu tính logic, chặt chẽ. tính biểu cảm, tính bảng. Ngôn ngữ hình tượng,.
thường chính xác, cụ thể, khách quan,.có thể sử dụng các thuật ngữ chuyên ngành. Biện pháp Sử dụng và phát huy Ít sử dụng các biện Lựa chọn sử dụng tu từ tối đa hiệu quả biểu pháp tu từ. hợp lí các biện pháp đạt của các yếu tố tu từ. nghệ thuật và các biện pháp tu từ.
11 Phong Giá trị của VB thể Ít thể hiện phong cách Có thể hiện phong cách cá hiện ở đóng góp của cá nhân của tác giả. cách cá nhân của tác nhân của nhà văn khi khẳng giả. nhà văn định phong cách sáng tác độc đáo. Tiểu loại Trữ tình, tự sự, kịch.
Báo cáo kết quả Chứng minh, giải kí. nghiên cứu, VB đa thích. phương thức, VBTT tổng hợp có sử dụng thuyết minh kết hợp miêu tả, biểu cảm,. Việc xem xét các đặc điểm cho thấy, khi đánh giá giá trị của VBTT, cần dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau: mức độ chính xác của nội dung (tính cập nhật kịp thời, chính xác, trung thực của thông tin được phản ánh trong VB), mức độ đa dạng của hình thức (lựa chọn, kết hợp sử dụng nhiều yếu tố khác nhau để giúp người đọc tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng, hiệu quả: thuật ngữ chuyên ngành, cỡ chữ, kiểu chữ, sơ đồ, biểu đồ, tranh ảnh minh hoạ, chú thích,…), hiểu biết của tác giả (NL chuyên môn, khả năng cập nhật của tác giả đối với thông tin được phản ánh trong VB), khả năng thu hút sự chú ý và truy cập của bạn đọc.
Đây là cơ sở để khẳng định giá trị của VBTT so với các VB cùng chủ đề. Nội dung dạy học và các yêu cầu cần đạt về đọc hiểu VBTT trong chương trình Ngữ văn THPT 2018 .